MX Lưu Văn Phúc
Trong phạm vi nhiệm vụ của mình, tôi chỉ viết những gì
liên quan tới Pháo đội B, là một đơn vị trực thuộc Tiểu
Đoàn I Pháo Binh/SĐTQLC với những diễn tiến từ ngày chúng
tôi ở lại Quảng Trị, trong khi tất cả TQLC rời vùng hành
quân.

14/03/1972 là ngày nhận lệnh từ Tiểu Đoàn trưởng: Pháo đội B (PĐB) giữ nguyên tại vị trí gần ngã tư Hội Yên thuộc quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
Lữ Đoàn 258 gồm BCH/LĐ cùng 3 Tiểu Đoàn tác chiến TQLC, Tiểu Đoàn I Pháo Binh (ngoại trừ pháo đội chúng tôi), các đơn vị tăng phái (thiết giáp, công binh, chống chiến xa, viễn thám, quân y..) sẽ di chuyển rời vùng trách nhiệm.
Pháo đội B/TQLC được lệnh ở lại để yểm trợ hỏa lực cho Tiểu Khu Quảng Trị với phòng tuyến do Liên Đoàn 913 Địa Phương Quân trấn giữ.
Cá nhân tôi, với nhiệm vụ Pháo đội
trưởng/Pháo đội B đã có những câu hỏi trực tiếp với Tiểu
Đoàn trưởng là Thiếu tá Nguyễn Hữu Lạc khi nhận lệnh. Ông
ta nói: “Pháo đội B phải tự túc tất cả”:
-Tự phòng thủ (nghĩa là không có bất cứ đơn vị bảo vệ an
ninh vòng ngoài như vẫn phải có).
-Tự cung cấp lương thực.
-Tự tản thương nếu cần.
-Chẳng những tự phòng thủ vị trí pháo đội, nhưng còn chia
ra để canh giữ 2 kho đạn đại bác: một tại Hội Yên cách vị
trí PĐB 500 mét; một kho đạn đại bác khác tại Điền Môn,
cách chúng tôi khoảng chục cây số về hướng nam, dọc theo
Hương lộ 555.
Cá nhân tôi nhận thấy đây là một nhiệm vụ bất khả thi,
nhưng lệnh là lệnh. Quân Đội: thi hành lệnh. Còncấp chỉ huy
ban lệnh có chịu trách nhiệm hay thế nào, đó là vượt quá
sự hiểu biết của tôi.
Tôi không biết binh pháp, nhưng tôi vẫn hiểu được rằng: hành quân lui binh, đơn vị được giao nhiệm vụ ở lại thì chắc chắn rằng “không khá được”.
Một thoáng suy nghĩ như thế. Nhưng lệnh kế tiếp của Thiếu tá Lạc mới khiến tôi “lạnh sống lưng”: PĐB phải giao tất cả 7 GMC (6 xe GMC để kéo đại bác và 1 GMC chuyên chở quân dụng đài tác xạ, truyền tin, dụng cụ văn phòng pháo đội) cho Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn vào 6 giờ sáng ngày 16/03/1975.
Nghĩa là đại bác không còn xe dùng vào việc di chuyển. Trường hợp bị pháo kích, bị tấn công đều phải ở ngay tại vị trí đóng quân. Nếu có thương binh cũng chịu nằm tại chỗ và chờ tử thần đem đi. Cả pháo đội có một nhân viên y tá với một túi cứu thương lớn bằng cái tráp đựng trầu của các cụ bà VN thì làm được việc chi trong những tình huống ấy?
Tôi làm gì được bây giờ, khi vị Tiểu Đoàn trưởng không thể cho tôi biết thêm bất cứ điều gì trong “lệnh hành quân”, ngoài việc phổ biến cho tôi tần số liên lạc để yểm trợ cho Liên Đoàn 913 Địa Phương Quân trên phòng tuyến và tần số liên lạc với Thiếu tá Nguyễn Trọng Đạt, vị Sĩ Quan Liên lạc Pháo Binh bên cạnh Bộ Tư Lệnh nhẹ SĐTQLC của Đại tá Nguyễn Thành Trí/TL phó SĐ tại Hương Điền.
Bất cứ người Lính Thủy Quân Lục Chiến nào
cũng có thể thấy ngay tình hình của Pháo đội B vào thời
điểm bắt đầu từ sáng 16/03/1975.
-Phòng tuyến mà Liên Đoàn 913/ĐPQ thay thế Lữ Đoàn 258/TQLC
dựa vào bờ Nam sông Thạch Hãn kéo dài ra đến sát bờ biển,
cách vị trí PĐB tại ngã tư Hội Yên bao xa? Giữa khoảng
trống đó không có bóng dáng quân bạn. Vậy có thể gọi là
an toàn không? Trước đây được phòng thủ bởi Thủy Quân Lục
Chiến, yểm trợ do 2 Tiểu Đoàn Pháo binh/TQLC; chưa kể đến
Pháo binh 155 ly tăng cường, cộng với nhiều đơn vị
khác....Còn bây giờ???!!!
-Rồi từ vị trí PĐB về đến Chi khu Hương
Điền, đến BTL nhẹ SĐTQLC bao xa nữa?
-Nghĩ đến toán quân nhân gồm một Trung sĩ và 7 Binh sĩ
thuộc PĐB đang canh gác kho đạn Điền Môn, tôi lo lắng và thật
thương họ. Tôi bảo nhân viên truyền tin gọi và dặn hai toán
canh gác hai kho đạn giữ liên lạc chặt chẽ với pháo đội.
Tôi yêu cầu Trung úy Huỳnh Thái Sơn, Pháo đội phó gọi 3 SQ Trung đội trưởng và Thường vụ pháo đội lên họp. Tôi tôi tóm tắt lệnh hành quân đã nhận từ Thiếu tá Lạc. Tôi yêu cầu các anh không phổ biến cho anh em pháo đội để tránh giao động tinh thần. Rất may mắn, vì anh em quân nhân PĐB tinh thần phục vụ tốt và kỷ luật rất cao. Mọi sinh hoạt vẫn bình thường.
Họp xong, tôi nói Sơn ra lệnh cho HSQ quân xa kiểm tra lại các GMC và Jeep duy nhất của pháo đội.
Chiều 15/03/1975: Trung úy Sơn triệu tập
Trung sĩ Nguyễn Sang, người HSQ quân xa và 7 Binh sĩ tài xế
lên đài tác xạ nhận lệnh: “ Các bạn đem theo ba lô, vũ khí
cá nhân, 3 ngày lương khô đã được cấp phát tuần trước, lái
đoàn xe đến vị trí BCH/TĐ I PB lúc 6 giờ sáng ngày mai
16/03/1975. Tr/sĩ Sang vào trình diện Thiếu tá Trương Công
Thuận/Tiểu Đoàn phó. Đoàn xe của PĐB đặt dưới sự điều
động của tiểu đoàn”.
Vậy là từ sáng ngày 16/03/1975 chỉ còn lại PĐB chúng tôi
trơ trọi nơi này!!!
Ngày 17/03/1975 khoảng hơn 9 giờ, kẻng báo động vang lên dồn
dập, pháo đội tư thế sẵn sàng chiến đấu. Trung úy Sơn bước
vào đài tác xạ nói với tôi: “Trạm canh gác phía đông báo
cáo thấy nhiểu quân lính với quân phục bộ binh, ba lô, vũ
khí, quân dụng nhẹ đang di chuyển từ hướng Gia Đẳng-Mỹ Thủy
về vị trí chúng ta”.
Tôi bảo: Sơn liên lạc với các đề lô của Liên Đoàn 913/ĐPQ hỏi xem sao. Tôi và một nhân viên âm thoại viên mang máy truyền tin bước ra cùng các khẩu đội.
Một số quân nhân này, có cả vợ con họ, đi ngang chúng tôi và thẳng ra Hải Lăng. Một số quân nhân khác đi theo các bãi cát gần vị trí chúng tôi và tiến về phía Nam.
Tôi ra lệnh pháo đội canh gác cẩn thận hơn. Theo dõi họ, đề phòng địch trà trộn và bất thình lình tấn công chúng tôi. Chừng một tiếng đồng hồ, các toán quân đó xa dần.
Tôi hỏi Trung úy Sơn “có liên lạc được không”?
Sơn nói: đã gọi ngay lúc nãy, nhưng im lặng vô tuyến. Gọi nhiều lần: không liên lạc được ai.”
Tôi bảo truyền tin gọi SQLL cạnh BTL nhẹ SĐ. Sau lần gọi thứ nhất, đã liên lạc được. Tôi vào máy và yêu cầu được gặp Thiếu tá Nguyễn Trọng Đạt.
Thiếu tá Đạt là cấp chỉ huy đầu tiên của tôi khi tôi học xong khóa 21SQTBTĐ và cùng hai người bạn nữa là Nguyễn Thành và Cao Khắc Minh xin phục vụ Pháo Binh TQLC vào tháng 8/1966 sau khi cả 3 người chúng tôi đã học thêm khóa Quan sát viên phi cơ 6 tuần lễ.
Thiếu tá Đạt là người rất tốt với đàn
em. Ông không quát mắng, dù cấp dưới có phạm lỗi. Ông quan
tâm đến thuộc cấp. Nhưng đường binh nghiệp của ông cũng khá
chậm. Là một trong các SQ đầu tiên khi Thủy Quân Lục Chiến
thành lập Tiểu Đoàn Pháo Binh vào năm 1962. Nhưng đến nay,
ông cũng chưa được giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng hay tiểu
đoàn phó, dù rằng Pháo Binh TQLC phát triển từ một Tiểu
Đoàn lên đến 3 Tiểu Đoàn vào cuối năm 1969, và SĐTQLC có
một BCH/PB/SĐ.
Chắc hẳn là nhờ vào hiệu quả can thiệp của Thiếu tá Đạt,
gần 8 giờ tối ngày 18/03/1975, Tr/sĩ Sang đã dẫn đoàn xe từ
phía bắc đèo Hải Vân (nơi BCH/TĐIPB) về đến hậu trạm của
PĐB tại Huế. Anh ta gọi máy báo cáo tin vui cho pháo đội.
Tôi vào máy, nói vài lời khích lệ anh em tài xế và bảo:
“hãy nghỉ ngơi tại hậu trạm, đừng lang thang ra phố, sáng
mai xem lại tất cả GMC, yêu cầu hậu trạm cho đổ đầy các
thùng nhiên liệu của xe, nếu trở ngại báo cho pháo đội
biết để can thiệp; sáng mai pháo đội có lệnh cho anh em”.
Ngày 19/03/1975, lúc 7 giờ sáng, tôi bảo truyền tin gọi hậu trạm, nói Tr/sĩ Sang tiếp chuyện 185 (PĐT/PĐB). Tôi chỉ thị anh Sang gặp Thượng sĩ Huỳnh Nghiệm, hậu trạm tiểu đoàn và nói: “Đại úy Phúc muốn gặp anh ta trên máy”. Nghiệm từng có thời gian làm việc với tôi; thời gian tôi là trung đội trưởng thuộc PĐA, rồi Sĩ Quan Thám sát địa hình vào năm 1968, anh ấy là HSQ tác xạ, sau là HSQ phụ tá của tôi trong toán địa hình, nên chúng tôi rất thân thiết.
Tôi yêu cầu hậu trạm tiểu đoàn do Thượng sĩ Nghiệm chỉ huy, cấp thêm cho PĐB lương khô, điện trì và nhiên liệu đoàn xe của PĐB. Mọi yêu cầu được cung cấp đầy đủ, vì hậu trạm tiểu đoàn không đủ nhân lực và phương tiện vận chuyển tất cả mọi thứ về Đà Nẵng.
Tôi nói Trung sĩ Sang mượn một PRC-25 đem
theo phòng hờ. Có thể từ ngã ba Hải Lăng vào Hội Yên cần
phải liên lạc, vì không chắc có còn quân bạn giữa Hải
Lăng-Hội Yên. Thật sự tôi rất mù mờ về
tình hình lúc bấy giờ.
Hơn một tiếng đồng hồ sau đó, Trung sĩ Sang hướng dẫn 7 GMC với các loại tiếp tế do hậu trạm tiểu đoàn cung ứng đã rời hậu trạm tại Huế, tiến ra Quảng Trị, về với PĐB tại Hội Yên.
Tôi nói Trung úy Sơn hãy đến từng trung đội, ra lệnh trực tiếp cho họ chuẩn bị sẵn sàng di chuyển khi có lệnh. Tuyệt đối không được chộn rộn, hãy làm mọi việc cẩn thận, chỉ đem theo những vật liệu, quân dụng cần thiết (tránh cồng kềnh) và một cấp số đạn đại bác; trong thời gian chuẩn bị, vẫn canh gác kỹ lưỡng, tránh tập họp cả pháo đội.
Khoảng 10 giờ sáng, khi đoàn xe 7 GMC về đến, Trung sĩ Sang vào đài tác xạ trình diện và báo cáo. Anh ta cho biết tình hình các đường phố tại Huế có không khí khác thường, không còn nhộn nhịp, hình như ai cũng vội vã. Từ Huế vào vùng hành quân, gặp nhiều xe cả quân sự lẫn dân sự chạy hướng về Huế, còn hướng vể Quảng trị rất vắng xe, đoàn xe của pháo đội chạy rất thong dong.
Tôi bắt tay và khen ngợi Trung sĩ Sang và bảo anh nói với các tài xế lời cám ơn tinh thần phục vụ, tinh thần kỷ luật và sự dũng cảm của anh em.
Tôi yêu cầu Trung úy Sơn cấp phát lương khô cho các trung đội và ban chỉ huy pháo đội. Bổ sung pin cọc dấu cho các khẩu đội, điện trì cho ban truyền tin ; nhắc lại: mọi người hãy sẵn sàng tư thế “lên đường”. Tôi có linh cảm tình hình rất nguy ngập.
Sau này mới biết rõ rằng: ngày hôm đó,
khoảng 14 giờ (19/03/1975), chiến xa của quân cộng sản Bắc
Việt đã vào đến Gia Đẳng và khu vực bắc Hội Yên, chỉ còn
cách chúng tôi vài cây số trên Hương lộ 555.(Trích từ Quảng
Trị sau lưng” Hồi ký của ĐẠI TÁ NGUYỄN THÀNH
TRÍ/TLP/SĐTQLC, đăng trong Đặc San Sóng Thần 2021-2022 trang
71).
Hoàn toàn “im lặng vô tuyến”! Không liên lạc được với cấp
trên, không liên lạc được với Liên Đoàn 913/ĐPQ của Tiểu khu
Quảng Trị. Tại sao? Và tôi tự hỏi: “làm sao đây bây giờ”?
Buổi chiều 19/03/1975, tôi đích thân gọi máy liên lạc với toán Liên lạc Pháo binh cạnh BTL nhẹ SĐ. Đã gọi nhiều lần, nhưng không thể liên lạc. Mọi tính toán, tôi nghĩ và giữ riêng cho mình, vì tình hình này mà cả pháo đội biết, sẽ gây nên sự giao động lớn.
Lúc trời chưa tắt nắng hẳn, tôi cố gắng liên lạc với toán Liên lạc Pháo binh tại Hương Điền một lần nữa, nhưng cũng vẫn không liên lạc được. Tôi nghĩ rằng, họ đã tháo gỡ an-ten dù, nên không còn liên lạc xa từ Hương Điền đến Hội Yên được nữa. Vậy, tôi phải “tự quyết định số phận pháo đội”!
Tôi cho mời Trung úy Pháo đội phó và Trung úy Nguyễn Tri Thường/Trung đội trưởng/Trung đội 1 của pháo đội. Tôi ra lệnh: Thường cho trung đội thu dọn nhanh gọn như chỉ thị lúc sáng, Sơn cho 2 nhân viên tác xạ với dụng cụ và 1 nhân viên với máy PRC-25 đầy đủ, chỉ liên lạc nội bộ, tuy nhiên cũng phải ghi nhớ tần số liên lạc với các đề-lô trực thuộc Liên Đoàn 913/ĐPQ/Tiểu khu Quảng Trị và với toán Liên lạc Pháo binh Sư Đoàn để dùng khi cần.
Tôi chỉ cho Sơn và Thường vị trí đóng quân của Trung đội 1 trên bản đồ, đó là gần khu nhà thờ Nhất Tây, dọc theo Hương lộ 555. Yêu cầu Thường báo cáo khi sẵn sàng di chuyển và khi chiếm đóng vị trí xong. Tính yếu tố yểm trợ pháo đội khi cần, tỉnh táo và canh gác cẩn thận: “đây là lúc sống hay chết cũng chỉ có pháo đội chúng mình mà thôi, hãy nhớ”!
Trời vừa sập tối, Trung đội 1 di chuyển bằng 2 GMC kéo theo đại bác, khi hàng rào cổng được kéo rộng, các pháo thủ giữ im lặng, tay cầm súng, hướng ra hai bên, xe dẫn đầu là Trung úy Thường và Khẩu trưởng khẩu đội 1, xe thứ nhì là Trung sĩ I Phan Hữu Táng/Trung đội phó và Khẩu trưởng khẩu đội 2.
Đồng thời, một GMC khác theo sau, do một HSQ
hướng dẫn, ra khỏi cổng quẹo phải, ngược đường với Trung
đội 1 để đến đón các quân nhân đang canh gác kho đạn gần vị
trí pháo đội đã nhận được mật lệnh từ buổi trưa. Đón và
đưa họ về với pháo đội. Bỏ mặc kho đạn, như trong lệnh, tôi
đã bảo các bạn ấy không tháo dỡ lều ngủ cũng như chòi
canh gác để y nguyên.
Ngồi chờ trong đài tác xạ, theo dõi mọi diễn tiến. Hơn một
tiếng đồng hồ sau, có lẽ gần 9 giờ tối. Trung úy Thường
gọi máy báo cáo “chiếm đóng vị trí xong, sẵn sàng tác xạ
yểm trợ”.
Tôi nói với Trung úy Sơn: bây giờ tới nhiệm vụ của bạn.
Chuẩn bị nhân viên tác xạ và truyền tin như buổi chiều. Bạn
và Trung đội 2 di chuyển, sẽ thông báo cho Trung đội 1 tránh
ngộ nhận. Thành phần các bạn sẽ qua mặt vị trí của
Thường khoảng vài cây số, tìm chỗ tương đối tốt để đóng
quân; cũng làm y như Trung đội 1 đang làm: canh gác, gióng
hướng súng yểm trợ chúng tôi và vị trí của Thường. Báo
cáo khi sẵn sàng.
Khoảng nửa đêm, Trung đội 2 dưới sự giám sát của Trung úy Sơn và SQ Trung đội trưởng Trung đội 2 đã sẵn sàng yểm trợ. Vị trí đặt súng của Trung đội 2 tại khu vực không xa kho đạn Điền Môn để dễ chuyển vận thêm đạn dược khi cần thiết.
Trung úy Sơn là người cẩn thận, suy nghĩ
chậm, nhưng chắc, không ồn ào. Đầu năm 1973, khi cấp trên ra
lệnh cho tôi từ nhiệm vụ Trưởng ban 3/TĐ I PB ra nhận nhiệm
vụ PĐT/PĐB, hoán đổi với người bạn của tôi là Đại úy Đoàn
Văn Khởi về Ban 3/TĐ thì Trung úy Huỳnh Thái Sơn đang là SQ
đề-lô đi theo BCH/TĐ 2/TQLC. Tôi sắp xếp lại thành phần SQ
chỉ huy pháo đội. Đưa một Thiếu úy đi đề-lô, và Trung úy
Sơn về làm Trung đội trưởng. Tháng 1/1975, tôi đề nghị với
thượng cấp giao cho Sơn chức vụ PĐ phó/PĐB thay Trung úy Đỗ
Hữu Châu khi Châu lãnh trọng trách Chỉ huy Hậu cứ Tiểu Đoàn
I Pháo binh/TQLC tại Căn cứ Sóng Thần.
Khi Trung úy Sơn báo cáo đã chiếm đóng vị trí xong, sẵn
sàng tác xạ. Lúc này, tôi ra lệnh cho Thường vụ pháo đội
báo với Trung đội 3 và Ban chỉ huy pháo đội “thế lên
đường”: không gây tiếng động lớn, hạn chế ánh sáng, 2 GMC
kéo đại bác và chuyên chở Trung đội 3. Chiếc GMC còn lại,
giao cho Thượng sĩ Lê Đắc Lập thu dọn Ban tác xạ, Ban truyền
tin, Ban tạp vụ.
Thường vụ pháo đội sẽ di chuyển cùng với Pháo đội trưởng trên xe Jeep và một nhân viên truyền tin, một cận vệ. Tuy hơn chật, nhưng ghế hàng dưới đã được xoay ngược, quân dụng chất lên thùng kéo phía sau nên cũng ổn.
Quá nửa đêm, thành phần còn lại của Pháo đội B rút lui rời vị trí Hội Yên. Khi xe GMC sau cùng ra khỏi vị trí, tôi bảo Hạ sĩ Trần Xíu Tài, người em thân tín của tôi, xuống xe và kéo hàng rào kẽm gai chặn cổng như cũ. Tuy chẳng đánh lừa được ai lâu; nhưng được lúc nào, tốt lúc đó, miễn là chúng tôi di chuyển êm thắm về hướng Nam tìm sự sống!
Tôi tự hiểu “đây là quyết định liều lĩnh”, hậu quả là ra “Tòa án quân sự”! Nhưng tôi chấp nhận, vì phòng tuyến phía trước đã không còn?! Không thể liên lạc với quân bạn, mất liên lạc với cấp trên duy nhất còn lại tại Hương Điền sau khi cả 2 Lữ Đoàn 258 và 369/TQLC đã rời vùng hành quân từ 3 ngày trước, vậy ở lại để làm gì?
Dù miên man suy nghĩ như thế, nhưng tôi vẫn không quên 8 quân nhân của pháo đội đang canh gác kho đạn Điền Môn. Tôi cho tạm dừng đoàn xe tại ngã ba rẽ vào kho đạn, Tôi dặn Sĩ quan Trung đội trưởng Trung đội 3 cho anh em xuống xe, bố trí dọc theo hai bên đường, cấm ồn ào, cấm hút thuốc.
Một GMC lái theo xe Jeep tiến vào kho đạn Điền Môn, đón toán canh gác kho đạn. Cũng như cách chúng tôi làm với kho đạn tại nơi gần Hội Yên: giữ nguyên chòi gác và các lều ngủ. Chỉ âm thầm rút lui. Tôi với nhiệm vụ người chỉ huy sẽ nhận trách nhiệm tất cả. Từ SQ, HSQ và anh em Pháo thủ chỉ là những người thi hành.
Mọi việc nhanh chóng, gọn gàng trong im lặng. Chúng tôi trở ra Hương lộ 555. Tất cả lên xe, và tiếp tục xuôi Nam.
Trước đó, tôi gọi Trung úy Thường, qua ám danh đàm thoại, tôi nói Trung đội 1 thế lên đường, nối đuôi với đoàn xe chúng tôi khi vừa đi ngang qua chỗ họ chiếm đóng. Tôi gọi Trung úy Sơn, tôi nói anh ta theo dõi lộ trình di chuyển của chúng tôi để sẵn sàng tác xạ yểm trợ và ngăn chặn nếu địch phát hiện và truy đuổi.
May mắn, địch chưa biết động tĩnh gì. Tôi đưa thành phần gồm Ban chỉ huy pháo đội và Trung đội 3, cùng Trung đội 1 về khu vực gần cây cầu Đại Lộc. Nơi đây có một vị trí pháo binh cũ. Chúng tôi kéo đại bác vào. Chiếm đóng vị trí. Chỉ định nơi đặt đài tác xạ. Tôi bảo người HSQ truyền tin là Trung sĩ Thiềng: không cần dương an-ten dù. Tôi dẫn 2 SQ Trung đội trưởng phân chia vị trí đặt đại bác và phòng thủ. Yêu cầu không nấu nướng, tránh tối đa ánh sáng.
Khi các đại bác sẵn sàng tác xạ, vị trí phòng thủ tạm ổn định, tôi gọi máy ra lệnh cho Trung đội 2 của Huỳnh Thái Sơn xuôi Nam. Lúc đó đã tờ mờ sáng ngày 20/03/1975. Tôi nói Trung sĩ I Nguyễn Công Sẳng, Thường vụ pháo đội, đem theo 3 Binh sĩ và máy PRC-25, ra ngay gần cầu, chờ đón Trung đội 2, trao lại lệnh tôi ghi vắn tắt trên giấy để Trung uý Sơn biết vị trí đóng quân gần Chợ Biện thuộc Chi khu Hương Điền. xong công tác, rút về vị trí pháo đội.
Ngày 20/03/1975: khi ánh dương chiếu rọi, một ngày mới trên quê hương, dòng sông vẫn trôi cạnh vị trí và dưới cầu Đại Lộc, quang cảnh chung quanh pháo đội vẫn im lặng, anh em ai nấy đều lo phận sự của mình, sự canh gác luôn cẩn thận. Tôi nói Trung úy Thường cho gióng hướng đại bác để sẵn sàng tác xạ khi cần. May mắn thời tiết lúc này khô ráo, pháo đội chưa vội làm lều, ngoại trừ đài tác xạ dựng lên cách đơn giản nhất, có thể làm việc trên xạ bảng, liên lạc truyền tin.
Tôi bước ra ngoài, cùng với Hạ sĩ Tài cầm
súng đi bên cạnh để bảo vệ. Thày trò tôi đi một vòng quanh
vị trí để quan sát, vì chúng tôi không còn đơn vị bạn hỗ
trợ hay bảo vệ vòng ngoài.
Người HSQ trực bước nhanh tới gặp và nói: Trình Đại úy,
Trung úy Đông muốn gặp Đại úy trên máy. Ông ấy nói: có tin
tức khẩn và quan trọng.
Chúng tôi trở lại đài tác xạ. Vào máy,
truyền tin gọi tiền trạm của Tiểu Đoàn I Pháo Binh.Trung úy
Phan Đông là Sĩ quan Đạn dược tiểu đoàn và chỉ huy toán
tiền trạm canh gác kho đạn đại bác gần BTL/SĐ tại Hương
Điền.
Trung úy Phan Đông, một Sĩ quan trẻ, thông minh, trọng tình
nghĩa. Tôi nhớ lại vào trung tuần tháng 03/1971, trong cuộc
hành quân Lam Sơn 719. Một cuộc hành quân lớn tại Khe Sanh-Hạ
Lào gồm 3 Sư Đoàn: Nhẩy Dù, TQLC và SĐ I Bộ Binh với đầy
đủ các thành phần yểm trợ: Thiết giáp, Pháo binh, Không
quân Mỹ và VN....tăng cường thêm các Liên Đoàn Biệt Động
quân.
Thiếu úy Phan Đông là đề-lô bên cạnh BCH/TĐ 5/TQLC. Tiểu Đoàn đang có nhiệm vụ trừ-bị và bảo vệ BTL/SĐ/hành quân trú đóng tại Khe Sanh. Lúc đó chẳng nơi nào là an toàn. Có thể bị địch xâm nhập, bất ngờ tấn công, còn bị pháo kích như chuyện xảy ra hàng ngày.
Bị đợt pháo kích, một số quân nhân thuộc TĐ 5/TQLC tử thương và thương tích nặng, nhẹ. Trong số quân nhân bị thương nặng có Thiếu úy Phan Đông/SQ đề-lô. Nhân viên trong toán gọi máy báo cáo thẳng với BCH/TĐ I PB. Tại nơi Bộ chỉ huy, ngoài Thiếu tá Đoàn Trọng Cảo/TĐT, tôi là SQ Ban 3 có cấp bậc cao nhất, đang phụ trách tất cả các công việc của BCH/TĐ. Vì Đại úy Trần Văn Nhẫn/Tiểu Đoàn phó cùng với PĐA của Đại úy Huỳnh Văn Vân đang ở trong Lao Bảo, ông không giải quyết mọi công việc tại BCH/TĐ!
Không kịp suy nghĩ, tôi lao ra ngoài, lái chiếc xe Jeep đến BCH/TĐ 5 đang đóng, mục đích là tản thương Phan Đông ngay, không chờ phương tiện khác. Đến nơi, thấy tình trạng Đông khá nguy ngập, tôi bảo nhân viên trong toán đề-lô “đỡ ông thày các em lên xe”. Ôm chặt Thiếu Úy Đông, và xe chúng tôi quay đầu chạy, hướng về nơi bệnh viện dã chiến có các Bác sĩ TQLC và các nhân viên đang ngày đêm cứu chữa thương binh. Tôi theo cáng cứu thương vào đến nơi cứu chữa. Bác sĩ và Y tá làm những việc cần thiết ngay lập tức. Tôi nắm tay Đông và nói : Ráng lên em.
May mắn, Đông dù bị thương nặng, nhưng được
cứu thương nhanh chóng, nên không bị nguy hiểm đến tính mạng.
Vài ngày sau, Đông được tản thương ra Đông Hà và chuyển về
Bệnh viện Lê Hữu Sanh tại Căn cứ Sóng Thần tiếp tục điều
trị vết thương. Nhờ sự hết lòng cứu chữa của các Bác sĩ
và nhân viên y tế bệnh viện Lê Hữu Sanh, Phan Đông dần đần
hồi phục.
Đầu năm 1972 trở lại đơn vị. Thiếu úy Phan Đông tiếp tục là
một trong các Sĩ quan đề-lô giỏi của TĐ I PB. Trong trận
chiến tái chiếm Quảng Trị từ gần cuối tháng 6 đến
15/9/1972, anh ấy đã góp công sức cùng các chiến sĩ Thủy
Quân Lục Chiến tạo nên chiến thắng khi lá cờ vàng ba sọc
đỏ thân yêu của Tổ quốc VNCH tung bay trên nóc Cổ thành
Quảng Trị đổ nát vì bom đạn.
Tháng 2/1973, tôi là SQ Hành quân & Huấn
luyện (Trưởng ban 3), đã đề nghị với thượng cấp cho Trung
úy Phan Đông (anh thăng cấp thường niên) theo học khóa Sĩ quan
Đạn dược Binh đoàn. Với nhiệm vụ ấy, Đông sẽ phù hợp với
sức khỏe yếu sau lần bị thương tại Khe Sanh.
Trở lại câu chuyện buổi sáng 20/03/1975: tôi lên máy, và
Trung úy Đông báo cho chúng tôi một tin rất quan trọng mà anh
ấy nghe được qua sự tiết lộ của người Sĩ quan chỉ huy toán
Công binh/TQLC đang đóng chung với toán tiền trạm TĐ I Pháo
binh tại kho đạn Hương Điền. Phan Đông nói (đã được mã hóa)
rằng Công binh đã nhận lệnh sẽ giật sập cầu Đại Lộc để
gây trở ngại sự truy đuổi của địch. Đông không biết pháo
đội của chúng tôi đang ở đâu, nhưng Đông nói tôi hãy hành
động kẻo muộn. Tôi cám ơn Phan Đông và nói: anh tự lo được,
yên tâm nhé!
Tôi lại cho gọi Trung sĩ I Sẳng. Yêu cầu anh ta dẫn tất cả các binh sĩ thuộc Ban chỉ huy pháo đội, ngoại trừ HS Tài và HS Nguyễn Phương là 2 nhân viên luôn luôn bên cạnh tôi ở lại. Tôi bảo: toán các anh gọn, nhẹ và di chuyển ngay qua cầu, phía bên trái có một trường học bỏ hoang, hãy vào và lục soát kỹ chung quanh, pháo đội sẽ di chuyển đến đó sau.
Khi toán quân của Trung sĩ I Sẳng báo cáo
đã hoàn tất và đang canh gác an ninh chung quanh khu trường
học. Tôi gọi máy ra lệnh cho Trung đội 2 của Trung úy Sơn
sẵn sàng yểm trợ khi cần.
Tôi nói Trung úy Thường ra lệnh cho pháo đội thế lên đường.
Khi các khẩu đại bác đã móc lên sau các GMC. Xe Jeep chở
thày trò tôi lăn bánh, dẫn đoàn xe ra khỏi vị trí, vượt qua
cầu và chiếm đóng vị trí mới đang do toán thám sát của
Trung sĩ I Sẵng canh gác an ninh.
Các chiến sĩ trong pháo đội thuần thục và
nhanh chóng dàn đội hình, gióng hướng súng, chia nhau công
việc, mỗi khẩu đội cũng lo nấu ăn, vì từ tối hôm qua đến
bấy giờ đã gần trưa rồi mà chúng tôi chưa ăn gì.
Tôi ra ngoài, đi một vòng xem xét. Nhưng nhân viên đài tác xạ
chạy ra gặp và nói: mời Đại úy vào máy để tiếp chuyện
Đại bàng Đà Lạt (danh hiệu đàm thoại của Thiếu tá Đạt).
Qua hệ thông liên lạc vô tuyến, Thiếu tá Đạt trách tôi: tại
sao không giữ liên lạc.
Tôi thưa với Đà Lạt rằng: từ chiều 19/03 chúng tôi đã cố gắng liên lạc nhiều lần, nhưng không có kết quả. Đà Lạt cho biết: nhờ liên lạc được với toán tiền trạm của Phan Đông, nên mới yên tâm là Pháo đội B vẫn còn. Ông cho biết thiết giáp của quân Bắc Việt đã vào tới Mỹ Thủy từ trưa hôm qua, tức trưa 19/03/1975. Đà Lạt lo cho số phận Pháo đội B quá chừng.
Giữa tình nghĩa thày trò năm 1966, khi tôi là đề-lô, phục vụ dưới quyền của Đà Lạt, tôi nói ông tắt loa, chỉ dùng ống liên hợp, về tần số nhà pháo (các sĩ quan đàn anh và các sĩ quan cùng thời với chúng tôi có một mã khóa đặc biệt, hầu như người nào cũng nhớ hoặc cũng biết). Tôi vắn tắt thưa với Đà Lạt việc tôi đã tự ý rút lui từng chặng như thế nào. Hiện giờ chúng tôi có 2 vị trí đều ở phía Nam cầu Đại Lộc. Ông thở phào nhẹ nhõm và nói tốt rồi.!
Trở lại tần số cũ, chấm dứt liên lạc trước khi Đà Lạt dặn “giữ liên lạc, sẵn sàng di chuyển khi có lệnh của BTL nhẹ SĐ”.
Tình hình vẫn còn yên tĩnh trước cơn bão lớn đổ xuống bất cứ lúc nào. Tôi khá mệt và muốn ngả lưng trên giường vải. Trung sĩ Giàu, người HSQ cấp dưỡng đem cho tôi ca cà phê sữa và ca mì gói, khói còn đang bốc. Anh ấy nói: ông thày ăn uống chút gì để lấy sức. Từ trưa hôm qua đến bây giờ ông không ăn uống gì cả. Hồi sáng định làm cà phê thì pháo đội di chuyển. Tôi cám ơn Trung sĩ Giàu.
Giàu với tôi có sự thân tình: lúc tôi mới
về đơn vị sau khi ra trường, khi còn được ở hậu cứ chờ
hành quân, đôi ba lần anh ta cho tôi quá giang xe Jeep mà cựu
Tiểu Đoàn trưởng là Thiếu tá Nguyễn Văn Trước ký sự vụ
lệnh cho anh làm trưởng xa đón TĐT tại tư gia ở khu vực
Khánh Hội.
Tiếp sau những khoảng thời gian, anh Giàu là người lo phục
vụ cho Thiếu tá/Trung tá Đoàn Trọng Cảo, vì PB TQLC đã có
3 tiểu đoàn pháo binh. Trung tá Trước đã trở thành
CHT/PB/TQLC. Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn gặp nhau, mỗi khi tôi
từ BCH/LĐ 258 có việc phải xuống Ban 3/TĐ để giải
quyết văn thư hay công điện.
Cuối năm 1973, Trung tá Cảo đi học khóa Tham mưu Cao cấp, vị TĐT thay thế Trung tá Cảo thuyên chuyển Trung sĩ Giàu ra Pháo đội A. Anh ấy trở thành HSQ phụ tá SQ đề-lô. Nghe tin ấy, tôi thấy tội nghiệp. Dù sao Trung sĩ Giàu cũng đã lớn tuổi, con đông, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Tôi thương lượng với Đại úy Thiết/PĐT/PĐA để hoán đổi một HSQ trẻ cho PĐA, tôi nhận Trung sĩ Giàu về PĐB. Hôm anh về trình diện tôi tại vị trí đóng gần Gia Đẳng III/Hải Lăng, anh đã khóc. Tôi hỏi sao vậy? Anh nói: nếu Đại úy không cho tôi về phục vụ PĐB, chắc tôi khổ lắm, tôi đã lớn tuổi rồi, làm sao lội đề-lô theo anh em trẻ được. Tôi an ủi và quay sang nói với Trung úy Phú là Pháo đội phó lúc bấy giờ: anh Phú sắp xếp cho Trung sĩ Giàu là HSQ cấp dưỡng của pháo đội. Từ đó, anh Giàu trông coi anh em Binh sĩ thuộc Ban chỉ huy pháo đội, anh thường chăm lo việc ăn uống của các SQ pháo đội.
Không muốn phụ tấm lòng tốt của anh Giàu,
tôi nhận và ráng nuốt nửa ca mì và uống ít cà phê rồi
nằm nghỉ. Chẳng biết được bao lâu, có lẽ cũng hơn một
tiếng đồng hồ. Tôi giật mình thức. Nhờ HS Tài kiếm nón
sắt nước rửa mặt cho tỉnh táo. Tôi nói Tài gọi Phương và
HS I Thông/tài xế xe Jeep. Chuẩn bị đi đến Trung đội 2, trực
tiếp gặp anh em ở đó, đồng thời trao đổi với Trung úy Sơn
những điều cần thiết mà không tiện nói trên hệ thống vô
tuyến.
NHẬN LỆNH VỀ THUẬN AN:
Đêm 20/03/1975, cả 2 vị trí đóng quân chúng tôi đều trôi qua
trong im lặng. Đối với các Sĩ quan trong pháo đội, nhất là
với tôi, đây là điều tôi mừng, tôi nghĩ: “yên được ngày nào,
mừng ngày ấy. Không biết vài giờ nữa, có còn yên được hay
không”?
Tôi chờ, nhưng chính tôi cũng không biết
chắc rằng “mình chờ gì”?
• Chờ được lệnh rút lui?
• Chờ địch pháo kích?
• Chờ địch tấn công?
• Chờ quân bạn giải cứu?
Ngày 21/03/1975: khoảng 10 giờ sáng, Đại bàng Đà Lạt ra
lệnh cho tôi trên hệ thống truyền tin mã hóa. Ông ban lệnh
cho chúng tôi lui binh về cửa biển Thuận An. Cố gắng đưa “gia
đình Bravo” (PĐB) về điểm tập trung trước 4 giờ chiều”.
BTL/SĐ sẽ cung cấp phương tiện phà chuyên chở các xe kéo đại
bác qua phía Nam để di chuyển đường bộ về qua Huế, tiếp
thêm nhiên liệu, sẽ có hộ tống để kéo pháo đội về Đà
Nẵng vào sáng hôm sau.
Lòng mừng quá, tôi cám ơn thượng cấp vẫn còn quan tâm đến chúng tôi. Tuy nhiên, tôi đã trình với Thiếu tá Đạt về toán Tiền trạm đang canh gác kho đạn gần Điền Lộc, mà vẫn thường gọi kho đạn Hương Điền.
Thiếu tá Đạt hỏi lại tôi: thế Thiếu tá Lạc trước khi rời vùng hành quân, có chỉ thị gì cho Phúc Yên không?
Tôi thưa rằng: không có chỉ thị gì. Tiền trạm đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tiểu Đoàn. Còn hai kho đạn thuộc PĐB, đàn em đã lo xong.
Ông nói: Đà Lạt sẽ trình Tango ngay, chờ trên máy.
Chỉ ít phút sau, Đà Lạt chỉ thị chúng tôi
đón toán tiền trạm. Kho đạn dược sẽ có quyết định của
Đại bàng Tango cho thành phần khác trách nhiệm. Tôi rất cám
ơn sự chăm sóc đàn em của Thiếu tá Đạt đã ưu ái đến chúng
tôi.
Tôi cho nhân viên truyền tin, gọi tiền trạm của Trung úy Phan
Đông. Tôi nói: “sẵn sàng di chuyển, chỉ đem theo vũ khi, lương
thực và quân trang cá nhân, hãy để y nguyên đạn dược, Công
binh sẽ phá
hủy khi họ có lệnh rút lui. Khi một GMC của PĐB vào đón,
anh em phải nhanh, gọn, ai chậm sẽ bị ở lại. Yên tâm, cứ thi
hành, khi gặp sẽ nói chi tiết sau”.
Truyền tin gọi Trung úy Sơn vào máy, tôi nói Sơn: thi hành những điều mà chiều hôm qua, tôi đã bàn với trực tiếp với Sơn.
Hẹn thời điểm gặp nhau tại nơi quy định,
nghĩa là Trung đội 2 sẽ nối đuôi đoàn xe của pháo đội.
Khi gần đến ngã ba Điền Lộc, nơi rẽ vào kho đạn, tôi cho
một GMC tương đối chuyên chở nhẹ, tiến vào đón thày trò
Phan Đông. Nhanh chóng trở ra, nhập vào đoàn xe di chuyển về
Thuận An.
BẾN PHÀ THUẬN AN:
Sau cùng, điểm đến cũng đã đến. Đúng như lời Thiếu tá Đạt
cho biết. Nơi đây Phòng Chuyển Vận thuộc Sư Đoàn đang chờ
sẵn.
Tôi gặp Đại úy Lâm Xuân, Sĩ quan thuộc Phòng 4/BTL, anh phụ trách các phương tiện và điều hành các phà đưa đoàn xe PĐB kéo đại bác qua bờ phía Nam để chờ lệnh di chuyển đường bộ.
Đại úy Xuân rất niềm nở và nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi. Cá nhân tôi cũng may mắn quen anh từ trước, khi tôi là Sĩ quan đề-lô đi theo các Tiểu Đoàn TQLC, anh là Sĩ quan Trung đội trưởng tác chiến, trước khi thuyên chuyển về phục vụ tại BTL/SĐ. Anh học khóa sĩ quan trừ bị trước tôi, nên tôi luôn tỏ ra kính trọng, muốn gọi anh là Huynh trưởng, nhưng anh đối đãi tôi như bạn hữu lâu ngày mới gặp.
Vài chuyến phà qua lại chuyên chở xe kéo đại bác, các quân nhân với quân dụng, cuối cùng cả PĐB đã tập trung nơi bờ phía Nam và chờ lệnh.
Tôi bảo truyền tin: gọi Trung sĩ Nguyễn Văn
Mới, hậu trạm của pháo đội vào máy. Chỉ thị cho anh ta cố
gắng bằng mọi cách để tiếp tế thêm nhu yếu phẩm cho anh em
pháo đội, làm nhanh chóng, càng nhanh càng tốt.
Trung sĩ Mới có tài xoay sở. Hơn một tiếng đồng hồ sau GMC
hậu trạm của PĐB đã đến nơi chúng tôi dừng đoàn xe chờ
lệnh.
Trao đổi tin tức nhanh. Tôi nói: anh Mới cho thu xếp gọn, nhẹ. Thứ gì đem được, hãy đem. Đừng tiếc các thứ nặng nề, cồng kềnh hãy bỏ lại đó. Trực máy, khi pháo đội gần đến Huế, hậu trạm của anh di chuyển 2 GMC đến nơi hẹn (mà tôi đã nói riêng cho anh ta), chúng ta cùng nhau hành quân về Đà Nẵng.
Sau đó, tôi gọi Phan Đông. Tôi nói: Đông đưa
toán tiền trạm của mình, theo xe hậu trạm PĐB ra Huế. Hãy
đi theo hậu trạm của TĐ I PB về Đà Nẵng trước. Ở đây, toán
tiền trạm đã hết nhiệm vụ.
Đông nói: anh cho tụi em theo PĐB được không?
Tôi nói: đừng dại, PĐB là “pháo đội lưu đày”. Đi theo để mà “chết chung sao”?
Rồi toán tiền trạm của Phan Đông gồm tất cả 12 quân nhân đã theo xe hậu trạm PĐB về Huế.
Những giai đoạn kế tiếp khi cấp trên ra
lệnh rút lui khỏi Huế. Rồi một lần nữa, PĐB giải cứu thày
trò Phan Đông như thế nào, đó là chuyện 3, 4 ngày sau.
LỰC LƯỢNG TANGO, PHÒNG TUYẾN CUỐI CÙNG PHÍA CỰC BẮC
VNCH:
Mặt trời chưa tắt hẳn. Cơn nóng gần cuối mùa Xuân cũng đã
dịu. Từng Khẩu đội, từng Ban trong pháo đội đang tìm cách
nấu nước sôi để chế gạo xấy cho bữa cơm chiều. Tôi ngồi
dựa lưng vào bên đường nghỉ mệt. Trung úy Sơn và các Sĩ
quan trong pháo đội không tập trung, mà ai lo nhiệm vụ người
ấy, vẫn nhắc nhở anh em cảnh giác, không chủ quan.
Khoảng hơn 6 giờ chiều, cũng là ngày 21/03/1975, nhân viên truyền tin mang máy đến chỗ tôi đang ngồi dựa lưng nghỉ cùng với hai người em thân tín.
Anh ta nói: trình Đại úy, có Đại bàng Đà Lạt gặp.
Tôi vào máy, ông bảo tôi tắt loa khuyếch đại. Chỉ dùng ống nghe. Ông ra lệnh: Phúc Yên trở lại đây gặp Đại bàng Tango nhận lệnh trực tiếp. Còn phụ tá của Phúc Yên sẽ đưa pháo đội qua phà, lên bờ phía Bắc và di chuyển trở lại chiến trường. Sẽ có lệnh kế tiếp. Nhận rõ và thi hành.
Tôi thưa: nhận Đại bàng Đà Lạt 5/5. Chúng tôi thi hành ngay.
Cho gọi Trung úy Sơn và các Sĩ quan khác. Tôi vắn tắt trình bày nhiệm vụ pháo đôi. Xong, tôi cùng Sơn lên xe Jeep, chạy đến bến phà gặp lại Đại úy Lâm Xuân. Anh cũng cho chúng tôi biết: đã nhận lệnh dùng phà chuyên chở PĐB trở lại phía bờ Bắc, Nhưng ưu tiên chở ngay xe Jeep và PĐT/PĐB, mau chóng trình diện Đại bàng Tango tại BTL nhẹ SĐ tại Hương Điền để nhận lệnh.
Xe đưa chúng tôi quay lại nơi pháo đội đang chờ. Tôi họp nhanh với các Sĩ quan và các Trưởng ban, và Thường vụ pháo đội.
Tôi nói: xe Jeep sẽ xuống phà trước, HS Tài và HS Phương truyền tin đi với tôi. Trung úy Sơn sẽ điều động từng khẩu đội và các thành phần khác xuống phà, quay lại chiến trường. PĐB có một nhiệm vụ mới. Cứ yên tâm, tôi sẽ đón đoàn xe pháo đội tại giao điểm gần bản doanh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn thuộc quân Hương Điền.
Thứ tự di chuyển: Trung úy Sơn dẫn đầu
đoàn xe, tiếp theo là Trung đội 2, Trung đội 3, Ban chỉ huy,
Trung đội 1 do Trung úy Thường di chuyển sau cùng. Giữ khoảng
cách đều, sẵn sàng chiến đấu, và chiếm đóng, thi hành tác
xạ khi có lệnh của thượng cấp.
Tôi quay lại trước để nhận lệnh trực tiếp từ Đại tá Tư
Lệnh Phó Sư Đoàn, Thiếu tá Đạt bảo tôi như vậy. Sơn hướng
dẫn pháo đội kéo đại bác trở lại sau. Hãy dẫn đầu đoàn
xe, nói Thường là trưởng xa chiếc GMC áp chót. Luôn luôn
cảnh giác khi di chuyển. Tôi sẽ theo dõi và đón pháo đội
ngay ngã ba trên Hương lộ 555 gần nơi lúc trưa chiều PĐB đón
toán tiền trạm của Phan Đông.
Lực Lượng Tango dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Phạm Cang đã
phòng thủ và chiến đấu như thế nào trong thời điểm ấy, đã
được chính ông viết rõ trong bài viết: Tiểu Đoàn 7 và Lữ
Đoàn 147.
Tôi viết bài này, chỉ muốn kể lại một giai đoạn HÀNH QUÂN
LUI BINH của một đơn vị nhỏ, cấp pháo đội, không có quân
bạn bảo vệ, không có sự liên lạc chặt chẽ.
Lui binh an toàn được là nhờ may mắn, nhờ
giữ vững được tinh thần các pháo thủ, nhờ sự ưu-ái, sự
quan tâm của những cấp chỉ huy đáng kính là Đại bàng Tango,
và Đại bàng Đà Lạt.
Đêm 21/03/1975, Pháo đội B từ Thuận An trở lại Điền Lộc và
Điền Môn thi hành nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực trong Lực Lượng
Tango. Chúng tôi đã trải qua những tình huống trên chiến
trường như thế nào, xin đọc bài viết của Thiếu tá Phạm
Cang và một bài Hồi ký của Trung úy Huỳnh Thái Sơn, Pháo
đội phó/PĐB đã đăng trên Trang TQLCVN.NET và ĐSST.
Sự quan tâm của Cam Ranh và Long Hồ dành cho PĐB theo đúng kế hoạch mà các anh đã tính toán khi bắt đầu lui binh vào buổi chiều 24/03/1975.
Ngày 25/03/1975 Lực Lượng Tango gặp Lữ Đoàn
147 tại phía Nam cửa Thuận An khoảng hơn chục cây số vào
lúc buổi chiều. Tại một nơi đã được nhiều đàn anh, nhiều
chiến hữu TQLC đã tường thuật lại theo nhận xét và quan
điểm phù hợp với những trách nhiệm và chức vụ của từng
tác giả.
Tây Bắc Hoa Kỳ tháng 04/2026.
PTMX Lưu Phúc.
Thứ I: Những ngày trung tuần tháng 3 năm 1975.
1.
Lược qua thành phần chỉ huy thuộc Tiểu đoàn 1 Pháo binh Sư Đoàn
Thủy Quân Lục Chiến, thời điểm đầu và trung tuần tháng 3 năm 1975:
- Tiểu đoàn trưởng: Thiếu Tá Nguyễn Hữu Lạc (Khóa 8 Sĩ Quan Pháo
Binh)
- Tiểu đoàn phó: Thiếu Tá Trương Công Thuận (K13, SQPB)
- Trưởng ban 3 (Sĩ Quan Hành Quân & Huấn Luyện): Đại úy Huỳnh Văn
Vân (K12, SQPB)
- Sĩ Quan Phối hợp Hỏa Lực cạnh TTHQ Lữ Đoàn 258/TQLC: Đại úy Lâm
Quốc Vân (K22, SQPB)
- Pháo đội trưởng Pháo đội Chỉ huy & Công vụ/Hành Quân: Trung úy Hà
Minh Công (K26, SQPB)
- Pháo đội trưởng Pháo đội A: Đại úy Nguyễn Văn Thiết (K20, SQPB)
- Pháo đội trưởng Pháo đội B: Đại úy Lưu Văn Phúc (K21, SQPB)
- Pháo đội trưởng Pháo đội C: Trung úy Nguyễn Văn Tuấn (K26, SQPB)
2. Cuộc họp quan trọng tại Bộ Chỉ huy Lữ Đoàn 258.
Trưa ngày 14 tháng 3 năm 1975, Đại tá Nguyễn Thành Trí, Tư lệnh phó
Sư Đoàn Thủy Quân lục chiến từ Bộ Tư lệnh tại Quận lỵ Hương Điền,
tỉnh Thừa Thiên đến Bộ chỉ huy Lữ Đoàn 258 đang trú đóng gần ngă tư
Hội Yên, Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị để mở cuộc họp khẩn cấp với Đại tá
Nguyễn Năng Bảo, Lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 258 cùng các Sĩ Quan Tham
Mưu Lữ Đoàn và tất cả các đơn vị trưởng trực thuộc Lữ Đoàn, trong đó
có Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Pháo binh Thủy Quân Lục chiến.
Cuộc họp được biết qua t́nh cảm bạn hữu, một vị Sĩ Quan có mặt trong cuộc họp đă tiết lộ chút ít nội dung: "Hai Lữ Đoàn 258 & 369 Thủy Quân lục chiến cùng Bộ Tư Lệnh và các Tiểu đoàn tác chiến, Quân Y, Truyền Tin, Công Binh, Yểm Trợ Thủy Bộ... sẽ hành quân về Đà Nẵng.
Nhiệm vụ thay thế Sư Đoàn Nhảy Dù. Ngoại trừ một
Pháo đội thuộc Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh/TQLC được chỉ định ở lại Quảng
Trị; Thiếu Tá Lạc đă chọn Pháo đội B nhận lănh trách nhiệm đó. Cá
nhân tôi thoáng một chút lo âu, bối rối. V́ cách ngày này một tuần
lễ, tôi có xin phép Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn để cho vợ tôi đem 2 đứa con
nhỏ (3 tuổi và 9 tháng) ra thăm. Dự định, chờ chuyến liên lạc gần
nhất sẽ cho vợ con trở về Sài G̣n. Bây giờ biết giải quyết ra sao?
Tôi hỏi lại người bạn: "Có chắc rằng Thiếu Tá Lạc chỉ định Pháo đội
B?".
Người bạn đáp: "Chắc. Mày ráng mà liệu cho vợ con của mày về Sài G̣n
càng sớm càng tốt".
Ngay trong buổi chiều, tôi thu xếp và nhờ Trung úy Huỳnh Thái Sơn,
Pháo đội phó, người Sĩ Quan phụ tá, đưa dùm vợ con của tôi ra Huế.
Cố gắng mua vé máy bay Hàng Không Việt Nam cho vợ tôi và 2 con rời
Huế, về Sài G̣n.
Cám ơn Thượng Đế, cám ơn Sơn, may mắn đă mua được
vé phi cơ chuyến chót Huế - Sài G̣n. Trung úy Sơn liên lạc với tôi
từ phi trường Phú Bài, Huế bằng máy PRC 25 qua trung gian tiếp vận
tại hậu trạm. Biết được vợ và 2 con đă ngồi trên máy bay rời Huế về
Sài G̣n, tôi thật sự thở phào nhẹ nhơm.
3. Nhận lệnh:
Gần tối 14-03-1975, Thiếu Tá Lạc cho lệnh gọi tôi lên Bộ Chỉ huy
TĐ1/PB/TQLC họp hành quân. Ông nói rằng họp hành quân cũng không
đúng ư nghĩa. V́ Thiếu Tá Lạc ra lệnh trực tiếp cho Pháo đội trưởng
PĐB, không có bất cứ Sĩ Quan nào hiện diện, kể cả Thiếu Tá Tiểu đoàn
phó hoặc Đại úy Trưởng ban 3. Cũng tương tự như những ǵ tôi đă được
người bạn thân tiết lộ. Chỉ có vài chi tiết sau đây, cho đến bây giờ
ngồi viết những ḍng chữ này, sau hơn 28 năm trời dài đằng đẵng, tôi
vẫn chưa t́m được câu giải đáp; đó là: “PĐB/TQLC sẽ đơn độc, không
có một đơn vị tác chiến nào bảo vệ pḥng thủ ṿng ngoài, hay yểm trợ
an ninh. (Ai đă quyết định như thế?)
Chiều 16-03-1975, PĐB phải chuyển giao tất cả 7
xe G.M.C cơ hữu cho Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn. (Pháo không xe kéo! Trong
lúc quân bạn không c̣n hiện diện tại vùng hành quân. Một lệnh kỳ
quái nhất, chưa từng xảy ra trong lịch sử cuộc chiến!) "Lănh tiền ăn
(mua thực phẩm ở đâu?) và gạo cùng điện tŕ cho 10 ngàỵ."
4. Thủy Quân Lục Chiến rời vùng Quảng Trị.
Sáng sớm ngày 17 tháng 03 năm 1975, BCH/LĐ258/TQLC, các đơn vị trực
thuộc đó là 3 tiểu đoàn tác chiến TQLC, TĐ1/PB gồm BCH/TĐ và Pháo
đội A, Pháo đội C, các đơn vị Thiết Giáp tăng phái...lần lượt di
chuyển đoàn xe rời vùng hành quân.
Vẫy tay chào quân bạn mà ḷng chẳng có ǵ đáng vui.
Đă chấp nhận vào cuộc chiến là chấp nhận hy sinh, nhưng chỉ phiền
rằng cấp trên đă "lột" hết phương tiện di chuyển và đem con bỏ bơ vơ
một ḿnh.
Thứ II: PĐB/TQLC hành quân đơn độc 4 ngày Hương Lộ 555.
1. Nhiệm vụ Yểm Trợ:
Pḥng tuyến của LĐ258/TQLC được bàn giao cho Liên đoàn 913 Địa
Phương Quân/Tiểu Khu Quảng Trị gồm 4 Tiểu đoàn.
Pḥng tuyến của LĐ369/TQLC chỉ c̣n lại TĐ6/TQLC. Pháo đội B có nhiệm vụ yểm trợ tất cả các lực lượng kể trên. Nhận lệnh trực tiếp từ Sĩ Quan liên lạc Pháo binh cạnh BTL nhẹ SĐ/TQLC/Hành Quân. Pháo đội B đă nhanh chóng liên lạc với Thiếu Tá Nguyễn Trọng Đạt (Khóa 13 Vơ Bị Đà Lạt), báo cáo t́nh h́nh: quân số (không quá 90 pháo thủ), vũ khí (6 Đại bác không xe kéo, cùng các vũ khí cá nhân), đạn đại bác, đạn súng cá nhân, 10 ngày gạo + điện tŕ, không phương tiện mua và tiếp tế thực phẩm!
Nội dung cuộc điện đàm qua hệ thống vô tuyến giữa
Thiếu Tá Nguyễn Trọng Đạt (Đà Lạt) với Đại úy Lưu Văn Phúc (Phúc
Yên)
- Phúc Yên: kính chào Thẩm Quyền Đà Lạt, tôi Phúc Yên, Bravo 1.
- Đà Lạt: chào Phúc Yên, đây Đà Lạt, nghe bạn rơ. Cho biết t́nh h́nh
của bạn. (Bằng ngụy hóa, Phúc Yên đă báo cáo đầy đủ lên Đà Lạt như
nêu trên).
- Đà Lạt tiếp: Đây là các tần số liên lạc yểm trợ. Tôi đă ra lệnh
các Đề Lô vào hệ thống tác xạ của bạn. Bạn có câu hỏi ǵ cần giải
quyết?
- Phúc Yên: Chúng tôi đơn độc. Cần đi, lại dễ dàng. Nhưng cả 7 GMC
của Pháo đội B, Lạc Long trưng dụng. Mong Thẩm Quyền can thiệp và
hơn nữa Lạc Long c̣n lệnh cho chúng tôi dọn sạch các kho đạn: Hội
Yên, Phong Điền, Điền Môn đưa về Thuận An.
- Đà Lạt: Tôi can thiệp để Lạc Long hoàn trả bạn những GMC ngaỵ (Thế
nhưng măi chiều ngày 19-03-1975, Pháo đội B mới đón nhận được đoàn
xe trở về vị trí. Cám ơn các tài xế, các bạn đă hoàn thành xuất-sắc
nhiệm vụ khó-khăn, vượt lằn đạn pháo của địch từ cây-số 17 trở ra
Hội Yên với Pháo đội).
2. Diễn tiến từ 17 đến tối 21/03/1975
Sau cuộc liên lạc với Thiếu Tá Đạt, Pháo đội B đặt trong t́nh trạng
ứng chiến. Sẵn sàng "Yểm trợ Quân Bạn" và tự "Pḥng Thủ".
Ngay chiều và tối 17/03/1975, nhiều đơn xin Tác
xạ các Sĩ Quan Tiền sát viên thuộc 4 Tiểu đoàn Địa Phương Quân và
Tiểu đoàn 6/TQLC.
Thiếu hẳn Trung tâm Phối hợp Hỏa lực nên không có sự thống nhất
chỉ-huy. Pháo đội B tính yếu-tố bằng 3 xạ bảng, 3 hệ thống tác xạ
khác nhau, cố gắng thỏa măn những yêu-cầu Yểm Trợ. Cần thêm đạn -
dược, Pháo đội phải xử dụng 1 xe jeep chuyên chở đại-bác không thùng
gỗ, và vác bộ bởi các pháo thủ được cử ra của mỗi khẩu đội, các ban
Truyền tin, đại liên, tạp vụ...và mỗi khẩu đội cử 2 người làm vào
công tác chuyển đạn từ Tiền trạm Hội Yên về vị trí Pháo đội (khoảng
cách chừng non 1 cây số).
Gần nửa đêm, chấm dứt Tác xạ Yểm Trợ. Pháo đội chia phiên tăng cường
pḥng thủ, thay nhau ăn, ngủ, canh gác, dọn dẹp dư liệu tác xạ...
Một đêm nặng - nề trôi qua . Những ngày sắp đến ra sao?
Ngày 18/03/1975, mới từ sáng sớm tôi được đánh
thức bởi Hạ sĩ quan trực, dù rằng chỉ chập-chờn ngủ hơn 1 tiếng đồng
hồ trước đó.
- "Ông thầy dậy đi, vọng lính gác cao nhất phát hiện có nhiều quân
di chuyển về hướng ḿnh" [Sở dĩ anh ta gọi tôi là "ông thầy" v́ vào
năm 1967, chúng tôi là thầy tṛ cùng một toán Tiền sát Pháo Binh].
Nhanh chóng đi đôi giầy trận, tôi theo Trung sĩ Thiềng, người Hạ sĩ
quan trực, tiến lên vọng canh gác. Chiếu ống nḥm quan - sát, quả
thực nhiều cánh quân đang di chuyển về phía chúng tôi. Quay sang
Trung sĩ Thiềng, tôi nói: "Kẻng báo động"
Pháo đội từ Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan, Binh sĩ gần 90 pháo thủ nhanh chóng
vào vị - trí với đầy đủ súng, đạn cá nhân, áo giáp, nón sắt, mặt nạ.
Tiếp tục quan sát, vào hệ - thống Tiền sát viên để liên lạc, biết
được quân bạn là các đơn vị Địa-Phương Quân đă rời tuyến pḥng thủ
bên bờ Thạch-Hăn để tái phối - trí lực-lượng tại phía tây cầu Vân
Tŕnh đến Quốc lộ 1.
Tuy nhiên, c̣n được an - ủi phần nào v́ Tiểu đoàn
6 Thủy Quân Lục Chiến vẫn vững tay súng gần thị - xă Quảng Trị đổ
nát. Kể từ lúc này, trước mặt và bên hông phải không c̣n quân bạn.
Pháo đội B: "6 Đại bác + không xe kéo súng + gần 90 pháo thủ chưa
từng tác chiến bộ binh" ở vị trí cao nhất, xa nhất! Từ điểm đóng
quân Pháo đội về đến Hương Điền, nơi đặt Bộ Tư Lệnh nhẹ Sư Đoàn
không c̣n quân bạn, ngoại trừ một toán (tương đương cấp tiểu - đội)
canh gác kho đạn Điền Môn! Tha hồ mà mát mẻ, anh em pháo thủ Pháo
đội B ơi! Mát cả mặt, mát lưng và lạnh cẳng! Nhưng ngoài mặt, tôi
với nhiệm vụ Pháo-đội-trưởng vẫn cố giữ vẻ b́nh thản. Chỉ bàn riêng
với Trung úy Pháo đội phó Huỳnh Thái Sơn và 3 Sĩ Quan Trung đội
trưởng. Tăng cường canh gác và pḥng thủ. May thay! Quân Cộng Sản
Bắc Việt chưa biết pḥng tuyến Thạch Hăn đă bỏ trống. Hay chúng lo
ngại "nghi binh để lừa chúng vào ṿng" của Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn I
Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa?
Nhưng đối với tôi, 1 đơn vị nhỏ cấp Pháo đội = cấp Đại đội, cứ yên
được lúc nào hăy mừng lúc đó.
Một đêm 18/03/1975 nặng nề, u ám đă qua .
Ngày 19/03/1975, tôi ngủ thiếp trong đài tác xạ.
Giật ḿnh thức v́ tiếng súng đại bác. Ngồi dậy, tôi hỏi: Yểm trợ đơn
vị nào?
- Trung úy Sơn nói: Dạ, yểm trợ cho Tiểu đoàn 6/TQLC.
- Pháo đội trưởng: Pháo đội yểm trợ lâu chưa?
- Trung úy Sơn: Mới tác xạ điều chỉnh xong và bắt đầu bắn hiệu quả.
- Phúc Yên: Sơn có cho lấy thêm đạn từ kho đạn về không?
- Trung úy Sơn: Anh em đang vác thêm.
Không dùng xe Jeep, v́ tài xế cho biết c̣n rất ít xăng!
- Phúc Yên: Đáp ứng theo yêu cần của quân bạn. Nhưng tác xạ 5 khẩu,
c̣n 1 khẩu pḥng thủ. Giải quyết cho hết số đạn tại kho đạn Hội Yên!
Quay sang âm thoại viên, tôi bảo:
- Dùng máy PRC25 khác gọi Hậu Trạm (Thành nội Huế).
Sau khi gọi nhiều lần. Chúng tôi liên lạc được Hậu Trạm, đoàn xe cơ
hữu của Pháo đội B mới từ Đă Nẵng về đến Huế.
Mỗi xe một tài xế, không lực lượng hộ tống! Can đảm thay và cũng
thương các chiến sĩ tài xế này. Vắn tắt, tôi an ủi anh em và bảo họ
nghỉ ngơi vài tiếng tại Hậu Trạm, yêu cầu Ban 4 Tiểu đoàn (c̣n lại
vài nhân viên) cho lănh nhiên liệu, thu xếp vào vị trí Pháo đội
trước 4 giờ chiều.
Các tài xế thi hành nghiêm chỉnh lệnh, và chiều ngày 19/03/1975 đoàn
xe 7 GMC đă chạy ngược từ Huế (tương đối c̣n an toàn) vào Hội Yên,
Hải Lăng, Quảng Trị đầy dẫy bất trắc dọc đường v́ đạn địch pháo
kích, quân bạn chạy ra Huế, dân chúng chạy theo...
Toàn thể Pháo đội hoan hô và tuyên dương các bạn tài xế.
Trung úy Thái Sơn ra lệnh phân tán các GMC để tránh đạn pháo kích
của địch.
Trung úy Tri Thường, Thiếu úy Lương Văn Phúc, Thiếu úy Nguyễn Kim
Sơn đôn đốc việc pḥng thủ.
Ngày 19/03/1975 là ngày đầu tiên chẳng được đơn
vị nào "cover" phía trước. Sau này tôi được biết: TĐ 7/TQLC bàn giao
vị trí pḥng thủ cho Tiểu đoàn 6/TQLC. Trong ngày này, TĐ 6 di
chuyển vào Đà Nẵng.
BCH/TĐ7/TQLC pḥng thủ tại cầu Phổ Trạch, một Đại đội ngược hướng
Bắc đến ngă tư Hội Yên (nơi Pháo đội B đang chiếm đóng đơn độc) và
Hương Lộ 555. (Nhưng thời gian ấy, Pháo đội không được nhận được bất
cứ lệnh ǵ từ bất cứ cấp chỉ huy nào).
Ngày hôm sau 20/03/1975, TĐ 7/TQLC nhận được lệnh
của Đại tá Tư lệnh phó SĐ/TQLC chuẩn bị di chuyển vào Đà Nẵng thay
thế TĐ 11 Dù nằm trên đèo Hải Vân. (Cam Ranh: TĐ 7/TQLC và LĐ147,
những ngày cuối tháng 3 tại chiến trường Huế).
PHÚC YÊN TỰ QUYẾT ĐỊNH LUI BINH:
Màn đêm buông xuống, cảnh vật vắng lặng đến "lạnh ḿnh", đằng trước
không quân bạn!, liên lạc cấp trên không có trả lời.
Hệ thống truyền tin "im lặng vô tuyến".
Ḷng tôi buồn vời vợi, lo âu ngập tràn. Tôi "uống thuốc liều", ra
lệnh các sĩ quan họp khẩn cấp, và quyết định: LUI BINH, chấp nhận
mọi hậu quả đến với cá nhân ḿnh sau này.
Thứ 1: Rút toán tiền trạm Hội Yên và Pháo đội cho GMC gom hết tất cả
đầu nổ đạn Đại bác - Di chuyển thêm đạn dược được chừng nào hay
chừng nấy.
Thứ 2: Lợi dụng ban đêm, hơn 7 giờ tối Trung úy Sơn cùng Thiếu úy
Lương Văn Phúc dùng 3 GMC kéo 2 đại-bác, đạn dược, truyền tin, tác
xạ di chuyển về hướng Nam, theo Hương lộ 555, đóng quân gần ngă ba
Vân Tŕnh, sẵn sàng yểm trợ Pháo đội. Chỉ hơn 2 tiếng đồng hồ sau,
Bích-Chiêu 3 do Trung úy Thái Sơn giám-sát và Thiêú úy Lương V. Phúc
trực tiếp chỉ huy đă báo cáo: "sẵn sàng".
Thứ 3: Trong khi chờ Bích Chiêu 3 hoàn trả 3 GMC về Pháo đội. Tôi
chỉ thị Trung úy Tri Thường đem con cái Bích Chiêu 1 cùng 2 đaị-bác,
đạn dược, lương thực, vũ khí cá nhân, dùng 3 GMC khác: "Thế lên
đường" và suôi nam Hương lộ 555, qua mặt Bích Chiêu 3, t́m vị trí
thuận lợi đóng sau Trung đội 1/B/TQLC khoảng 3 cây số. Hướng súng
yểm trợ Bích Chiêu 3 và Pháo đội. Chú trọng việc pḥng thủ vị trí.
Gửi trả Pháo đội 3 GMC. Báo cáo sẵn sàng.
Thứ 4: "Đúng là trời đất mênh mông, đâu là quân bạn?!" Trung đội
2/Pháo đội B/TQLC với Ban Chỉ huy Pháo đội chưa đếm đủ con số 40,
bây giờ ở ngay "tuyến đầu". Chốt sang sông, đâu mong ǵ trở lại.
Nhưng khi gom đủ 7 GMC, Phúc Yên nói Thiếu úy Nguyễn Kim Sơn (ông SQ
trẻ này đă được Phúc Yên chấp thuận cho rời nhiệm vụ vào ngày
25/4/1975 tại Long Thành để cùng cha mẹ, vợ con di tản sang Hoa Kỳ
ngày 28/4/1975, hiện định cư tại tiểu bang Wisconsin) thu dọn tất cả
đạn dược, cuộn ḿn Claymore dọc theo các ṿng rào pḥng thủ, đem tất
cả những ǵ có thể đem được, chất lên 7 GMC và 1 jeep. Báo cáo Phúc
Yên khi sẵn sàng, nhưng đừng quên canh gác trong lúc dọn dẹp vị trí
Pháo đội. Thiếu úy Kim Sơn cho biết: Đạn dược chỉ có thể mang theo 1
cấp số và tất cả đầu đạn. Tôi ra lệnh: "Gài chất nổ các kho đạn để
phá hủy." Đây là 1 quyết định LIỀU LĨNH. Nhưng cấp trên đă bỏ chúng
tôi, chúng tôi phải làm như thế để t́m con đường SỐNG! Liên lạc Thái
Sơn & Tri Thường theo dơi "những ṿng bánh xe âm thầm" của gia đ́nh
Bích Chiêu (PĐ-B (-)). Vẫy tay vĩnh biệt vị trí cũ thân yêu để theo
Hương Lộ 555 suôi Nam.
Cho xe ghé đón toán tiền trạm Điền Môn. Vượt qua Bích Chiêu 3 & 1
th́ đồng hồ đă chỉ hơn 3 giờ sáng ngày 20-03-1975.
Ngày 20-3-1975, ngồi trên xe, dẫn đoàn xe đưa gia
đ́nh Bravo t́m chỗ "dung thân", Phúc Yên chỉ thị Bích Chiêu 1 và 3
chỉ liên lạc nội bộ. Toàn bộ c̣n lại của Pháo đội chiếm đóng vị trí
phía Bắc cầu Đại Lộc. Công việc xong th́ trời hừng sáng. Tôi nói Ban
ẩm thực lo cho các tài xế và Trưởng ban Quân Xa vấn đề ăn uống.
Lúc này Pháo đội phó phải chỉ huy Trung đội 3, nên việc ǵ tôi cũng
cần trực tiếp. Thiếu úy Kim Sơn lo tổ chức vị trí và pḥng thủ.
Các ban tác xạ truyền tin làm Đài Tác Xạ, ban đại liên và công vụ lo
canh gác. Tôi chỉ thị ông Hạ sĩ quan Quân xa cho 3 GMC về vị trí
Trung đội 3 và 3 GMC về vị trí Trung đội 1. Mấy chú em của tôi thật
giỏi.
Đài tác xạ chưa thiết lập xong, truyền tin c̣n đang dựng ăng ten dù,
th́ họ đă đem cho tôi và Thiếu úy Kim Sơn mỗi người một tô ḿ gói và
nửa ca cà phê, riêng tôi c̣n có thêm gói thuốc lá PallMall. Thôi th́
cũng cố mà ăn để c̣n lấy sức, tới đâu hay tới đó.
Ngó vào đài tác xạ đang được thiết lập, tôi thấy Trung úy Nguyễn văn
Phú đang giúp hướng dẫn các nhân viên Ban Tác xạ thiết lập xạ-bảng;
chỉ bảo Hạ sĩ quan Tác xạ cùng Thiếu úy Nguyễn Kim Sơn gióng hướng
súng sẵn sàng yểm trợ Bích Chiêu 1 va Bích Chiêu 3.
Phúc Yên ra lệnh Gia Đ́nh Bích Chiêu 3: "Thế lên đường".
Hơn 8 giờ sáng, Trung đội 3/PĐ-B "dọn" đến ngang chỗ Pháo đội đóng
quân. Tôi lái jeep ra gặp Thái Sơn và Lương v. Phúc ngay trên lộ
555, chỉ vị trí đóng quân cho Trung đội 3/PĐ-B gần Chợ Biện.
Khoảng 10 giờ sáng 20/3/1975, Bích Chiêu 3 báo cáo: sẵn sàng tác xạ.
Phúc Yên tiếp tục chỉ thị Bích Chiêu 1 do Trung úy Tri Thường chỉ
huy "nhổ neo" dọn nhà về đóng chung với vị trí Pháo đội. Công việc
hoàn tất hơn 12 giờ trưa. Cho đến giờ phút đó, địch vẫn chưa biết
thật sự t́nh h́nh pḥng tuyến quân ta tại chiến trường Quảng Trị,
tôi đoán thế. Mệt mỏi, tôi nằm xuống "ghế bố" đặt trong đài tác xạ
ngủ thiếp.
Giật ḿnh thức dậy khi nghe nhiều tiếng đạn nổ.
À, vậy ra địch cũng t́m được vị trí của tôi! Chúng đang chào mừng
Pháo đội B đó! Tôi nhỏm dậy, hỏi nhân viên tác xạ: "Pháo đội có sao
không?"
Phương, hạ sĩ trực truyền tin nói: "Dạ thưa không có ǵ, đại úy."
Tôi chụp nón sắt lên đầu, khoác áo giáp bước ra khỏi căn hầm. Đài
tác xạ tạm làm bằng thùng đạn đổ đất, trên có vỉ sắt và 3 lớp bao
cát chống pháo kích.
Tiếng người trưởng đài tác xạ cất lên: "Nó đang pháo kích ông thầy
ra ngoài chi vậy?" Tôi trả lời: "Xem anh em thế nào. Coi chừng sau
màn pháo là nó đánh. Loạng quạng 'tiêu' với nó."
Đạn pháo kích vẫn nổ, nhưng chưa quả đạn nào lọt được vị trí. Đa số
rơi xuống sông chảy ngang cầu Đại Lộc. Tôi ra lệnh anh em cứ ẩn nấp,
sẵn sàng chiến đấu, đừng nghĩ chuyện phản pháo. Yêu cầu Trung úy Tri
Thường và nhờ Trung úy Phú cùng đo phương giác, ước lượng khoảng
cách đưa lên xạ bảng để tôi cùng Ban Tác Xạ xác định vị trí súng
địch. Có được những điểm nghi ngờ, tôi ra lệnh Trung úy Sơn cho Bích
Chiêu 3 phản pháo kích của địch quân.
Không biết phản pháo có hiệu qủa hay không, nhưng địch im tiếng
súng.
Lúc đó, trời đă ngă về chiều. Tôi nói Tri Thường, Kim Sơn hăy lo
thay nhau cơm nước, nghỉ ngơi và đôn đốc canh gác.
Tôi cũng nhắc Thái Sơn đừng quên "đang ở một ḿnh, ráng mà giữ
thân."
Thái Sơn trả lời: "Phúc Yên cứ an-tâm, Sơn và Lương v. Phúc sẽ thay
nhau chong mắt nh́n màn đêm, gia đ́nh Bích Chiêu 3 cảnh giác cao
độ."
Đêm 20/3/75 rạng 21/3/75, khoảng gần 3 giờ sáng, lợi dụng sương mù
dày đặc ban đêm địch đă ḅ từng toán từ rặng đồi dương liễu và ven
sông để mong đột nhập vào vị trí pháo đội. Nhưng các trạm canh gác
phát hiện sớm, chúng bị ăn đạn súng cá nhân và đại bác nên bỏ chạy.
Sáng sớm chúng tôi không dám mạo hiểm hành quân lục soát, lính Pháo
binh th́ chỉ biết bắn đại bác và pḥng thủ vị trí đă khá lắm rồi.
Ngày 21-3-1975, đợi sáng hẳn, tôi cho mời Thường
vụ Pháo đội đến gặp tôi nhận công tác.
“Anh chỉ huy 1 toán gồm 7 người kể cả 1 binh sĩ truyền tin với máy
PRC25. Di chuyển bộ, vượt cầu và đến phía Nam, bên trái có 1 trường
học có lẽ bỏ trống lâu ngày; chiếm giữ, canh gác an ninh 2 bên đầu
cầu và vị trí trường học. Pháo đội sẽ di chuyển sang ngay sau khi
anh báo cáo bố trí an-ninh pḥng thủ xong. Quân trang, quân dụng của
7 Pháo thủ này sẽ do Trung đội Công vụ bảo quản và đưa lên GMC."
Thường vụ Pháo đội thi hành lệnh nhanh chóng cùng toàn Thám sát vị
trí lên đường. Triệu tập Tri Thường, Kim Sơn, tôi nói: "Cơm nước
nhanh, dọn dẹp lẹ, thay phiên trực gác để có thể ăn uống và sẵn sàng
thế lên đường khi có lệnh."
Nhờ Phú chỉ thị Thái Sơn tính yếu tố bắn yểm trợ cho Pháo đội rút
lui nếu cần.
Không thể liên lạc được với Bộ Tư Lệnh nhẹ SĐ/TQLC/HQ, mất liên lạc
với mọi đơn vị bạn từ trưa 19/3/75.
Với nhiệm vụ người chỉ huy một đơn vị nhỏ mà ở ngay tuyến đầu, nặng
nề với súng đại bác, công tác dọn các kho đạn không thể thi hành.
Trong lịch sử chiến trận chưa bao giờ Pháo binh lại đơn độc như t́nh
h́nh Pháo đội B hiện nay.
May thay, quân Cộng sản Bắc Việt chưa xua quân vượt Thạch Hăn để
truy đuổi chúng tôi. Chúng nó c̣n sợ bóng vía cứ tưởng rằng pḥng
tuyến Quảng Trị vẫn c̣n những chiến sĩ Cọp Biển anh hùng, từng cắm
cờ Cổ Thành Đinh Công Tráng, từng tay đôi với xe tăng bọn chúng. Nếu
chúng biết rơ t́nh h́nh lúc đó tại tuyến đầu Quảng Trị của Quân Lực
Việt Nam Cộng Ḥa chỉ có 1 Pháo đội với khoảng 90 tay súng. Từ Thạch
Hăn đến Nam Cầu Vân Tŕnh đường thênh thang rộng mở, th́ bọn địch
chỉ cần xử dụng 1 đơn vị cấp Tiểu đoàn là có thể đưa gia đ́nh Bích
Chiêu đi nghỉ phép dài hạn ở thế giới bên kia.
Phúc Yên và các Sĩ Quan trong Pháo đội lo âu và bàn tính mọi cách
bảo toàn lực lượng. Nhưng anh em pháo thủ vẫn hoạt động b́nh thường
v́ họ chẳng biết ǵ về t́nh trạng nguy nan của đơn vị.
Mọi lệnh đưa xuống, các Trung đội, các khẩu đội, các ban trực thuộc
đều nghiêm chỉnh thi hành.
Xin dừng ở đây để viết lời cám ơn anh em.
Khoảng 10 giờ sáng ngày 21/3/7, Pháo đội B đă "sang sông", tạm chiếm
đóng tại sân trường học đổ nát, tọa lạc tại phía Nam cầu Đại Lộc.
Chưa kịp làm hầm hồ pḥng thủ, Pháo đội lại bị Pháo kích. Tôi nghĩ
có Đề-lô của địch bám sát và trà trộn trong dân chúng địa phương.
Vài quả đạn đă bắn gần vị trí. Rơi ngay các thửa ruộng sũng nước làm
tung toé nước lẫn bùn. Vài quả đạn địch bắn dài hơn.
Tiếng của Tri Thường gọi Thái Sơn phản pháo. Bên ngoài đài tác xạ,
có Kim Sơn và tôi đang cùng anh em t́m chỗ khả dĩ có thể tránh đạn
pháo kích, nhưng vẫn lo pḥng thủ.
Có lẽ đại quân chưa xuất hiện, chỉ đơn vị nhỏ của địch Pháo kích
chúng tôi bằng súng cối. Nhưng tôi thật nóng ruột. Mù mờ về t́nh
h́nh bạn và địch. Phải chi c̣n liên lạc được với cấp chỉ huy th́ đỡ
biết chừng nào.
Bớt đạn pháo kích, tôi chạy nhanh vào đài tác xạ và nghĩ miên man.
Tiếng nói vang lên từ loa khuếch đại của hệ thống truyền tin.
- Đà Lạt: Bích Chiêu đây Đà Lạt, nghe rơ trả lời.
- Âm thoại viên: Đà Lạt đây Bích Chiêu, tôi nghe Đà Lạt 5/5.
- Đà Lạt: Cho gặp Phúc Yên, thẩm quyền của bạn.
- Phúc Yên: Chào Đà Lạt, Phúc Yên nghe.
- Đà Lạt: Bạn bây giờ ở đâu? Sao không liên lạc báo cáo cho tôi?
Giọng nói của Thiếu Tá Nguyễn trọng Đạt khá gay gắt.
Tôi b́nh tĩnh trả lời: "Tŕnh Thẩm Quyền, từ trưa 19/3/75 tôi cố
liên lạc hoài không được với thẩm quyền và bất cứ đơn vị bạn nào".
Tôi đoán rằng Thiếu Tá Đạt thông cảm hoàn cảnh không sáng sủa ǵ của
Pháo đội B.
Nên ông dịu giọng: "Thôi, gỡ loa đi, về nhà pháo (33.40 #33.41)".
- Phúc Yên: Đáp nhận.
Tóm tắt cuộc điện đàm như sau:
1- BTL nhẹ SĐ do Đại tá Tư Lệnh phó Nguyễn Thành Trí trực tiếp chỉ
huy tại Hương Điền, chỉ có 1 trung đội Viễn Thám canh gác bảo vệ.
Pḥng 3 c̣n 1 vài Sĩ quan cấp nhỏ và số ít nhân viên. Trung tá
Nguyễn văn Nhiều, Trưởng Pḥng 4 và một số nhân viên trực thuộc c̣n
ở lại. Pháo binh vỏn vẹn 4 thầy tṛ Thiếu Tá Đạt.
2- Kho đạn Hương Điền với hơn 20,000 đạn đại bác được pḥng thủ và
bảo quản bởi toán tiền trạm không hơn 15 người do Trung úy Phan
Đông, Sĩ Quan Đạn dược, Tiểu đoàn 1 Pháo binh chỉ huy. Tại đây c̣n
có 1 trung đội Công Binh TQLC? (Phan Đông hiện định cư tại Ohio).
Chi khu Hương Điền không biết rơ họ c̣n bao nhiêu quân nhân tại chỗ?
Ôi, Tư Lệnh cả một chiến trường mà lực lượng pḥng thủ mỏng đến thế
hay sao? Tôi nghe mà thở dài ngao ngán.
3- Tiểu khu Quảng Trị đă về đến Huế (để thi hành nhiệm vụ ǵ?).
4- Lệnh cho Pháo đội B lui binh, không có bộ binh tác chiến bảo vệ
đằng sau.:
Phải rút về cửa Thuận An khoảng trước sau 5 giờ chiều, không sớm
cũng không muộn.
5- Thiếu Tá Đạt yêu cầu tôi báo cáo vị trí Pháo đội.
Tôi v́ muốn dấu vị trí thật, nên báo cáo láo như sau: Gia đ́nh Bích
Chiêu phân tán, tôi cho một đứa con Bích Chiêu 3 ra ở riêng, buôn
bán gần Chợ Biện; c̣n lại th́ thầy tṛ tôi ở Điền Môn.
Thiếu Tá Đạt sốt ruột và nói: Sao giờ này c̣n ở đó? Chờ đến bao giờ
mới về gần nơi đây? Tôi trả lời: Có giới chức nào cho lệnh ǵ đâu mà
dám di chuyển?
Thiếu Tá Đạt là cấp chỉ huy đầu tiên của tôi vào thời gian tháng
8/1966 lúc tôi vừa đáo nhậm đơn vị sau khi tốt nghiệp khóa 21 Sĩ
Quan Pháo Binh, Dục Mỹ, Nha Trang.
Ông ta hiểu tôi là "ưa liều lĩnh", nhưng càng trải chiến trận, tôi
càng thận trọng hơn trong mọi việc "xuất, sử," tuy nhiên tôi chỉ làm
những ǵ theo bổn phận, trách nhiệm, tuyệt đối chưa bao giờ "nói hay
hơn làm" để vừa ḷng cấp trên.
Bởi vậy tôi thường hay lận đận, khoá 21 SQ Pháo Binh phục vụ binh
chủng TQLC tất cả 5 người th́ 4 SQ kia lần lượt đảm nhận chức vụ
Pháo đội trưởng từ năm 1970. Riêng tôi thăng từ Đề Lô cấp đại đội,
tiến lên Đề Lô cấp Tiểu đoàn, rồi làm Sĩ Quan liên lạc Pháo binh
cạnh các BCH Lữ Đoàn cho đến tháng giêng năm 1973. Nước cạn bèo dính
đất, khoá 22, 23, 26, 2/68 đă là Pháo đội trưởng chả lẽ tôi cứ tiếp
tục Sĩ Quan liên lạc, nên tháng 4/1973 cấp trên cũng giao cho tôi 1
Pháo đội t́nh trạng đang đà tuột dốc.
Được dịp "khảo sát khả năng lănh đạo chỉ huy," nên cấp trên chỉ định
tôi cùng Pháo đội B ở lại "trần trụi" với chiến trường Quảng Trị bỏ
ngỏ!!!
Cho nên Thiếu Tá Nguyễn trọng Đạt thương cho hoàn cảnh của chúng
tôi.
Ông bỏ nhỏ: "Ráng mà đem gia d́nh Bravo về cửa Thuận An trước trời
sập tối của ngày 21/3/75".
Tôi đáp nhận. Chấm dứt liên lạc.
Tôi chỉ thị Pháo đội (-) các chi tiết lui binh.
Gọi Bích Chiêu 3 chờ đón, xe Jeep đưa 4 thầy tṛ tôi về gặp Thái
Sơn.
Gặp anh em Trung đội 3/PĐ-B đóng gần Chợ Biện, tôi họp nhanh với
Thái Sơn và Lương v. Phúc.
Cho 2 Sĩ Quan này biết kế hoạch triệt thoái và giờ giấc. Chúng tôi
quay lại vị trí Pháo đội (-). Mới về đến gia đ́nh Bích Chiêu, bước
vào đài tác xạ, người trực truyền tin cho tôi biết Trung úy Phan
Đông. Chỉ huy Tiền trạm Hương Điền chờ tôi trên hệ thống nhà Pháo
(33.40).
Tôi vào máy và qua điện đàm, Phan Đông cho tôi biết phải mau chóng
qua được Nam Cầu Đại Lộc, v́ Công Binh TQLC có lịnh phá cầu. Tôi cám
ơn Phan Đông nhưng không hề tiết lộ vị trí thật và chúng tôi cũng đă
dự trù để ngăn chặn chiến xa địch nếu cần th́ chính Pháo đội B sẽ
giật xập cầu trước lúc lui binh. Bây giờ có anh em Công Binh làm
công tác đó, càng khoẻ cho chúng tôi. Cám ơn bạn Phan Đông.
RÚT LUI VỀ THUẬN AN.
Khoảng gần 3 giờ chiều 21/3/75, tôi ra lệnh trung đội 1 do Trung đội
trưởng Trung úy Tri Thường kéo đại bác, đạn dược, vũ khí, quân dụng
rút trước.
Tôi nói khéo với Trung úy Phú để ông ta đi cùng Trung đội 1 rút lui
trước. Ban chỉ huy Pháo đội và Trung đội 2/B cùng tất cả các ban rút
sau. Về ngang Chợ Biện, nhập với Trung đội 3/B. Pháo đội chúng tôi
cho xe ghé vào kho đạn Hương Điền đón toán tiền trạm của Trung úy
Phan Đông.
Tôi chỉ bốc đầu đạn (mà cũng không hết) và quyết định bỏ mặc kho đạn
Hương Điền. Sức kham không nổi. Tôi quyết định "uống thuốc liều",
tới đâu hay đó, tôi nghĩ: "giữa cái chết của đơn vị và cái án tù bất
tuân thượng lệnh dành cho cá nhân ḿnh, th́ nên chọn cái nào, bên
nào nặng, bên nào nhẹ?"
Đoàn xe về đến cửa Thuận An chừng độ 5 giờ chiều, tôi nói với Thái
Sơn cho hạ càng súng đại bác, xe phân tán, phân chia các trung đội
pḥng thủ, nghỉ ngơi ăn uống. (Pháo Binh có thuốc bồi đạn đại bác,
nên nấu nước chế gạo xấy, hay hâm nóng thịt hộp, nấu cà phê, pha
trà, thậm chí nấu cơm rất nhanh.)
Tôi lái đến gặp sĩ quan chuyển vận Pḥng 4/SĐ/TQLC và được cấp 1 phà
quân sự lần lượt đưa toàn bộ Pháo đội gồm tất cả Pháo Thủ với xe kéo
súng, xe jeep, quân dụng, vũ khí, 1 cấp số đạn đại bác...qua phía
Nam cửa Thuận cũng phải 4 chuyến mới hoàn tất. Qua đến phía Nam,
trời đă về chiều.
Tôi cho gọi Hậu Trạm Pháo đội B tiếp tế lương thực, nhiên liệu cho
Pháo đội chuẩn bị kéo súng di chuyển đường bộ về Đà Nẵng, có thể
sáng hôm sau 22/3/75.
Vặn Radio để nghe tin tức, rà măi chẳng nghe đài phát thanh Huế phát
sóng lên tiếng. Hơn 7 giờ 30 chiều, Trung sĩ Nguyễn văn Mới, Hậu
trạm Pháo đội B gặp Pháo đội bằng 1 GMC, tuy có nhiên liệu nhưng đáp
ứng rất ít! Lương thực hoàn toàn không. Anh ta chỉ kịp ghé chỗ quen
mua tạm cho Pháo đội ít cà phê, đường, và thuốc lá.
Trung sĩ Mới cho biết: Hậu trạm các Tiểu đoàn kể cả Hậu trạm Tiểu
đoàn 1 Pháo binh đă di chuyển về Đà Nẵng.
Hiện vài thầy tṛ Thượng sĩ Huỳnh Nghiệm lo dọn nốt quân dụng. Nếu
họ di chuyển th́ chỉ c̣n lại Hậu trạm Pháo đội B với 3 GMC trong dó
2 GMC hư hỏng không phụ tùng sửa chữa.
Tôi trấn an anh ta: "Nếu Pháo đội về Đà Nẵng, tôi cho liên lạc
trước, toán hậu trạm của anh sẽ đón chúng tôi, trên đường chạy xuống
phi trường Phú Bài, thứ ǵ có thể đem được th́ đem, c̣n lại bỏ hết,
kể cả 2 GMC hư hỏng. Không có ǵ phải lo lắng. Yên trí, Pháo đội
không bỏ rơi các anh đâu!".
Lệnh Trở Lại Chiến Trường: NHƯNG, lại có chữ NHƯNG. Đời qủa là
rắc rối.
Người âm thoại viên tới, chào và nói: "Tŕnh Đại úy, Thiếu Tá Đạt
cần gặp".
Tôi bước đến xe jeep có thiết trí máy PRC25 và gặp Thiếu Tá Đạt qua
hệ thống vô tuyến. Ông cho tôi biết: Lệnh của Đại tá Trí là Phúc Yên
phải quay lại ngay nhận lệnh; toàn thể Pháo đội kéo đại bác trở lại
sau. Tôi thở dài ngao ngán. Nhưng Lệnh phải thi hành.
Cho mời Trung úy Phú, cựu Pháo đội phó Pháo đội B, hiện đang cùng
Pháo đội ở lại Quảng Trị, (lư do tại sao th́ chỉ Thiếu Tá Lạc biết).
Phú vừa tốt nghiệp khóa Pháo Binh Trung cấp. Đáng lẽ Phú xứng đáng
giữ chức vụ Pháo đội trưởng bất cứ Pháo đội A, B hay C. Nhưng cấp
trên lại giao cho một Sĩ Quan cùng khóa 26 Pháo Binh với Phú từ đơn
vị khác thuyên chuyển về đảm nhận chức vụ Pháo đội trưởng.
Đời thường vẫn có cảnh: "Bụt nhà không linh thiêng" là thế đó.
Cá nhân Phúc Yên đôi ba lần đề nghị giao PĐ-B để Phú chỉ huy, đồng
thời Phúc Yên đă làm đơn nộp xin thuyên chuyển xuất binh chủng TQLC.
Ngày nào c̣n phục vụ trong PB/TQLC th́ sao chiếu mệnh là "sao quả
tạ".
V́ để tránh nguy hiểm đến với Phú. Từ ngày 16/3/75 đến hôm nay
(21/3/75) tôi đề nghị Trung úy Phú chỉ nên ở trong Đài tác xạ. Giúp
được ǵ tùy ư, tôi không muốn Phú lao ra ngoài nguy hiểm như những
ngày c̣n quân số Pháo đội B.
Trung úy Phú gặp và hỏi tôi: "Đại úy cho gọi tôi có việc chi, tôi
sẵn sàng".
Làm như có lệnh trên, tôi nói: "Tiểu đoàn gửi công điện từ Đà Nẵng,
yêu cầu Phú về Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh/TQLC. Bây giờ Phú đi
cùng Trung sĩ Mới về Huế. Cố gắng t́m phương tiện nhanh nhất về Đà
Nẵng. Chúng tôi sẽ về đó sau".
Phú nói: "Đại úy báo cáo với Tiểu đoàn, tôi ở lại cùng Pháo đội và
sẽ cùng về Đà Nẵng một lượt".
Tôi nói: "Phú ơi, bạn phải về Tiểu đoàn. Tôi không c̣n phương tiện
liên lạc với họ. Tôi chỉ được Thiếu Tá Đạt chuyển lệnh". Tôi phải
nói dối để Phú rời vùng Pháo đội hành quân. Chúng tôi quay trở lại
Quảng Trị với nhiệm vụ tŕ hoăn chiến ngăn sức tiến quân của địch.
Đơn vị ở lại được xem như thành phần không có hy vọng trở về nguyên
vẹn.
Phú buồn bă chào tôi và từ biệt Pháo đội, bắt tay những người đứng
gần và thu xếp ba lô lên xe GMC cùng Trung sĩ Mới về Huế.
Bằng cách nào Phú về đến Đà Nẵng an toàn, tôi chưa hề hỏi lại Phú.
Quay sang Thái Sơn, tôi nói: “Sơn ơi, bây giờ tôi, Phương (âm thoại
viên), Tài (cận vệ) và Thông (tài xế xe jeep) xuống phà trở lại
trước. Bạn chỉ huy Pháo đội kéo súng xuống phà, quay lại sau, thứ tự
ưu tiên: Trung đội 1, 2, Trung đội chỉ huy và Trung đội 3. Giữ liên
lạc. Gần đến Hương Điền, tôi sẽ đón". Tôi hạ giọng và nói nhỏ với
Thái Sơn: "Tụi ḿnh vào nơi gió cát xa trường làm một nhiệm vụ khó
hoàn thành: Tŕ hoăn chiến".
Thay lời kết:
Thái Sơn và các bạn Pháo thủ Pháo đội B thân mến, cám ơn các bạn đă
sát cánh cùng tôi chu toàn nhiệm vụ khó khăn. Cá nhân tôi không có
ǵ xuất sắc, nhưng tôi đă làm tṛn lời nói với Pháo đội B khi tôi
nhận nhiệm vụ chỉ huy: "Không bao giờ bỏ anh em để tháo chạy lấy
thân, nếu khi rút lui, tôi sẽ đoạn hậu".
Mong có dịp may gặp lại các bạn sau gần 30 năm một người một nơi.
MX Lưu-văn-Phúc
Washington State, USA (21-11-2003)
Kỷ niệm ngày Gia đ́nh Thái Sơn đến Mỹ định cư.
Thân tặng Pháo thủ, Pháo đội B Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến.
Đặc biệt mến tặng Huỳnh Thái Sơn người đến Mỹ muộn màng (Ngày 21
tháng 11 năm 2003).
Tiến tŕnh thành lập và phát triển BC TQLC
Chiến sử TQLC
Binh Chủng TQLC
Sơ lược về BC TQLC
Trung Tá Lê Quang
Trọng - Chỉ Huy Trưởng TQLCVN đầu tiên
Đại Úy Bùi Phó Chí vị
Tiểu Đoàn Trưởng TQLC đầu tiên
Trung Tá Lê Nhữ Hùng -
người đă góp công nhiều cho sự hùng mạnh của Đoàn Quân Mũ Xanh
Tiến tŕnh thành
lập Chiến Đoàn & Lữ Đoàn
Lữ Đoàn 258
Lữ Đoàn 369
Tiểu Đoàn 1 - Quái Điểu
Tiểu Đoàn 1 PB - Lôi Hỏa
Tiểu Đoàn 2 - Trâu Điên
Tiểu Đoàn 3 - Sói Biển
Tiểu Đoàn 4 - Ḱnh Ngư
Tiểu Đoàn 5 - Hắc Long
Tiểu Đoàn 6 - Thần Ưng
Tiểu Đoàn 7 - Hùm Xám
Tiểu Đoàn 8 - Ó Biển
Tiểu Đoàn 9 - Mănh Hổ
Tiểu Đoàn Tổng Hành Dinh
Tiểu
Đoàn Truyền Tin
Pháo Binh TQLC
Viết cho những người pháo
thủ Mũ Xanh
Một đoạn đường trong
cuộc đời Y Sĩ TQLC
Mật khu Đỗ Xá
Chiến
dịch Sống
T́nh Thương
Hành quân
Hội Đồng Sẩm
Tiểu
Đoàn 2 -
Trận An Qúi
Tiểu Đoàn 2 - Trận
chiến Tam Quan
Tiểu Đoàn 3
- Trận Bàng Long, Cay Lậy
Tiểu Đoàn 4
- Trận B́nh Giả lúc khởi đầu
Tiểu Đoàn 4 -
B́nh Giả ơi! C̣n nhớ măi
Tiểu Đoàn 5 - Trận
Mộ Đức
Tiểu Đoàn 5
- Trận Mộ Đức & Cái chết của vị TĐT
Chiến
Đoàn A -
Trận Phụng Dư
Chiến Đoàn A
- Trận
Đức Cơ
Chiến Đoàn B và TĐ-5
Dù Truy Kích CQ ở Ba Gia
Chiến
Đoàn B - Cuộc hành quân đổ bộ Deckhouse V Sóng Thần
Tiểu Đoàn 6 - Trận
Mậu Thân
TQLC Trong
Tết Mậu Thân
Chiến Đoàn A
- Trận Mậu Thân
H́nh Ảnh T/T Nguyễn Văn Thiệu
thăm TĐ2/TQLC
Cuộc
hành quân qua Cambodia
Tiểu
Đoàn 4 - Hành quân Cambodia
Tiểu
Đoàn 7 - Những ngày đầu
Tiểu
Đoàn 8 - Trận Cam-Bốt
Lữ
Đoàn B - Vượt biên qua Kampuchia
Hành
quân Lam Sơn 719
Tiểu
Đoàn 1 PB - Lôi Hỏa sang Lào
Tiểu
Đoàn 2 - Hành quan Lam Sơn 719
Tiểu
Đoàn 3 PB - Căn cứ hỏa lực Hồng Hà
Tiểu
Đoàn 4 - Đêm Hạ Lào sao dài quá!
Tiểu
Đoàn 9 - Trận chiến Ba Ḷng
Tiểu
Đoàn 9 - Trận chiến Động Cù Mông
Khoá 22 và Lam Sơn 719 Hạ Lào
TQLC/VN và cuộc tấn công của csBV tại Vùng I
Tiểu
Đoàn 3 - Tại
Đông Hà
Tiểu
Đoàn 3 PB - Tay đôi với tụi nó...
Tiểu Đoàn 4 - Mùa
hè đỏ lửa
Tiểu
Đoàn 5 - Những ngày đầu
Tiểu Đoàn 6 -
Thần Ưng trong mùa hè đỏ lửa
Tiểu
Đoàn 6 - Xé xác tăng địch
Tiểu
Đoàn 7 - Ngày đầu cuộc chiến
Trận QT 72 của Lữ Đoàn 258 TQLC
Lữ
Đoàn 258 - Chiến thắng Quảng Trị tháng 4, 1972
Công
sản BV bị TQLC đánh bại tại Đông Hà
Hành
lang máu
Tiểu
Đoàn 9 - Trận chiến cầu Bến Đá
Tiểu
Đoàn 9 - Rừng núi Barbara
Lữ
Đoàn 369 - Trân sông Mỹ Chánh
Tái
chiếm Cổ Thành Quảng Trị ngày 19-6-1972
Tiểu
Đoàn 1 - Thử lửa đầu tiên
Tiểu
Đoàn 1 - Nhảy vào Triệu Phong
Tiểu
Đoàn 1 - Đổ bộ trong ḷng địch
Tiểu
Đoàn 1 PB - 20,000 đạn đại bác mỗi ngày
Tiểu
Đoàn 2 - Cuộc chiến Cổ Thành Quảng Trị
Tiểu
Đoàn 2 - Tiêu diệt chiến xa CSBV thuộc Tr/Đ Tăng-Thiết Giáp 202
Tiểu
Đoàn 2 - Tái chiếm Dinh Tỉnh Trưởng & Toà Hành Chánh Quảng Trị
Tiểu
Đoàn 3 & 6 - Tiến về Quảng Trị
Tiểu
Đoàn 3 - Dựng cờ
Tiểu
Đoàn 5 - Hắc Long dậy sóng
Tiểu
Đoàn 5 - Đánh trên đầu địch
Người
Pháo Thủ TQLC trong cuộc chiến 1972
Pháo
Binh TQLC và trận Quảng Trị
Cờ
bay trên Cổ Thành Quảng Trị
Tiểu
Đoàn 2 - Cửa Việt, một chiến thắng vẻ vang và ngậm ngùi
Tiểu
Đoàn 3 PB - Trước khi ngưng bắn
Tiểu
Đoàn 4 - Hành quân Cửa Việt
Lữ
Đoàn 258 - Chiến tích sau cùng
Hương
lộ 555 lẻ loi
Tiểu
Đoàn 7 và Lữ Đoàn 147
Lữ
Đoàn 147 - Di tản chiến thuật
Tiểu
Đoàn 4 - Trận đánh cuối cùng
Tiểu
Đoàn 9 - Trận đánh cuối cùng
Băi
biển Non Nước: Một kết thúc tức tưởi, oan nghiệt
Vị
TĐT cuối cùng của Tiều Đoàn 1 Quái Điểu
Y Sĩ TQLC: Những người không thích sống lâu